Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA

TỈNH SƠN LA


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 07/2024/HS-ST

Ngày 04-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Cà Văn Thanh.
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Cúc.

- Thư ký Tòa án: Ông Đào Ngọc Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Bằng Phi - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:Quàng Văn M (tên gọi khác: không), sinh ngày 12/4/1987, tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản Giàn, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Quàng Văn G, sinh năm 1955 và bà Đèo Thị K, sinh năm 1957; Bị cáo có vợ là Lò Thị H, sinh năm 1986 và có 02 con (con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2009); tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt từ ngày 16 tháng 7 năm 2024 đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 45 phút ngày 16/7/2024, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, ma túy Công an thành phố S, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực tổ D, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La phát hiện và bắt quả tang Quàng Văn M đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy ở trong lòng bàn tay trái của M 01 gói ni lon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng, do M tự giác đem ra nộp và khai nhận đó là ma túy Heroine M1 mua để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói ni lon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng nghi là Heroine Quàng Văn M tự giác lấy trong lòng bàn tay trái của M ra giao nộp, bị cáo khai nhận đó là ma túy Heroine bị cáo vừa mua và cất giấu với mục đích sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.

Ngày 16/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ của Quàng Văn M, kết quả: Số cục bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang có khối lượng 0,18 gam, trích 0,07 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu Q. Còn lại 0,11 gam lưu kho vật chứng, ký hiệu M.

Kết luận giám định số 1481/KL-KTHS ngày 19/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S kết luận: Mẫu ký hiệu Q gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphinc, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,07 gam.Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,18 gam; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Quàng Văn M sử dụng chất ma túy từ năm 2017, Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 16/7/2024, M bắt xe Bus từ nhà tại bản G, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La đến khu vực chợ C, phường C, thành phố S thì xuống xe đi bộ theo đường L về khu đô thị P tìm chỗ mua ma túy sử dụng. Khi M đi đến đoạn ngã ba giao đường dân sinh thuộc tổ D, phường C thì gặp một người đàn ông không quen biết. Qua trò truyện, M hỏi mua được của người đó 01 gói nilon màu trắng có chứa Heroine với giá 180.000 đồng. Sau khi mua được ma túy M cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái đi tìm chỗ sử dụng, khi M đang đi trên đường L thuộc tổ D, phường C, thành phố S thì gặp tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế, ma túy, Công an thành phô S kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Về nguồn gốc số ma tuý trong vụ án, Quàng Văn M khai nhận mua của người đàn ông không quen biết vào ngày 16/7/2024 tại khu vực đường dân sinh thuộc tổ D, phường C, thành phố S. Ngoài lời khai của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ nào khác để xác minh, điều tra mở rộng vụ án.

Tại bản Cáo trạng số: 461/CT-VKS ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Quàng Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Các bị cáo Quàng Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Quàng Văn M từ 15 đến 21tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu huỷ: Mẫu lưu M= 0,11 gam, 01 phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở và 01 mảnh nilon màu trắng.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến gì đối đáp với đại diện Viện kiểm sát và đều có ý kiến xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Ngày 16/7/2024 bị cáo Quàng Văn M đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,18 gam chất ma tuý là Heroine nhằm mục đích cùng sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực tổ D, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:

  • Bản tường trình, lời khai nhận tội của bị cáo.
  • Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 10 giờ 55 phút ngày 16/7/2024 tại tổ D, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Quàng Văn M cùng vật chứng thu giữ là 01 gói ni lon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng, M khai là Heroine bị cáo mua cất giữ để sử dụng.
  • Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 1481/KL-KTHS ngày 19/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của ông Lò Văn H1, sinh năm 1957, trú tại tổ B, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La, là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang.

Từ các căn cứ nêu trên, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi tàng trữ trái phép 0,18 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng của bị cáo Quàng Văn M đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Xét về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Bị cáo Quàng Văn M đã phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy với tổng khối lượng là 0,18 gam, loại Heroine đã vi phạm vào tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, khung hình phạt có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn và các tội phạm khác do đó cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bản thân bị cáo là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về nguồn gốc 0,18 gam Heroine bị thu giữ khi bắt quả tang, bị cáo khai nhận mua của một người đàn ông không quen biết vào ngày 16/7/2024 tại đường dân sinh thuộc tổ D, phường C, thành phố S. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Nên Cơ quan Cảnh Sát điều tra - Công an thành phố S không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án, do đó buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về toàn bộ số ma túy bị thu giữ.

[7] Vật chứng của vụ án: Đối với 0,11 gam Heroine ký hiệu M hiện đang lưu kho vật chứng là vật cấm tàng trữ, lưu hành và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở với 01 mảnh nilon màu trắng là vật chứng không có giá trị sử dụng, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015,cần tịch thu và tiêu hủy.

[8] Về án phí: Do hành vi phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ vào c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo: Quàng Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Quàng Văn M 16 (mười sáu) tháng tù Thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 7 năm 2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng và 0,11 (không phẩy mười một) gam Heroine ký hiệu M (được niêm phong trong 01 phong bì công văn có dán giấy niêm phong số 0075114 và 01 dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S).

(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/10/2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Quàng Văn M phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Quàng Văn M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/12/2024).

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND thành phố Sơn La;
  • - Công an thành phố Sơn La;
  • - Chi cục THADS thành phố Sơn La;
  • - Trại giam;
  • - THAHS;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Cầm Thị Thanh Huyền

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 07/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Quàng Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger