|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2024/HS-ST Ngày 19-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Tương .
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Văn Thạch.
Ông Bùi Tấn Sinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quang Bình – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 11 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 229/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với:
1. Các bị cáo:
1.1. VÕ ĐỨC V, sinh ngày 24 tháng 06 năm 1991, tại tỉnh Quảng Ngãi, căn cước công dân số: [...], cấp ngày 18/8/2021; nơi thường trú: thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, nghề nghiệp: nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Đức K, sinh năm 1964 và con bà Trịnh Thị L, sinh năm 1971; vợ Lê Thị Q, sinh năm 1990, con: 02 người con, sinh năm 2012 và sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2024 đến nay, bị cáo đang giam có mặt tại phiên tòa.
1.2. PHẠM KHÁNH, sinh ngày 25 tháng 01 năm 1993, tại tỉnh Quảng Ngãi, căn cước công dân số: [...], cấp ngày 14/01/2022; nơi thường trú: thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, nghề nghiệp: nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: không xác định và con bà Phạm Thị B, sinh năm 1960, vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2024 đến nay, bị cáo đang giam có mặt tại phiên tòa.
1.3. DƯƠNG THỊ THU THỦY, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1972, tại tỉnh Quảng Ngãi, căn cước công dân số: [...], cấp ngày 27/12/2021; nơi thường trú: thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, nghề nghiệp: nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Đ (đã chết) và con bà Lâm Thị M (đã chết); chồng: Đinh C, sinh năm 1957; con: 02 người con, sinh năm 1997 và sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2024 đến nay, bị cáo đang giam có mặt tại phiên tòa.
1.4. NGUYỄN ĐÌNH P, sinh ngày 30 tháng 10 năm 1987, tại tỉnh Quảng Ngãi, căn cước công dân số: [...], cấp ngày: 21/9/2022; nơi thường trú: thôn M, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, nghề nghiệp: nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T (đã chết) và con bà Bạch Thị H, sinh năm 1968; vợ Đinh Thị Bửu L1, sinh năm 1992, con: 04 người con, lớn nhất sinh năm 2013 và nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2024 đến nay, bị cáo đang giam có mặt tại phiên tòa.
1.5. LÊ VĂN Q1, sinh ngày 26 tháng 08 năm 1988, tại tỉnh Quảng Ngãi, căn cước công dân số: [...], cấp ngày 11/01/2022; nơi thường trú: thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, nghề nghiệp: nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1, sinh năm 1966 và con bà Lê Thị L2, sinh năm 1975; vợ Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1986, con: 01 người con, sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 12/09/2021 thực hiện hành vi đánh bạc bị Công an xã B, huyện B phạt tiền 1.500.000đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) – Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/QĐ-XPHC ngày 28/9/2021, đã chấp hành xong vào ngày 28/9/2021.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2024 đến nay, bị cáo đang giam có mặt tại phiên tòa.
1.6. NGUYỄN HỒNG C1, sinh ngày 23 tháng 12 năm 1966 tại tỉnh Quảng Ngãi, căn cước công dân số: [...], cấp ngày 02/5/2022; nơi thường trú: thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, nghề nghiệp: nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn N (đã chết) và con bà Nguyễn Thị T3 (đã chết); vợ Nguyễn Thị H1, sinh năm 1966 (đã ly hôn), con: 02 người con, sinh năm 1994 và sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2024 đến nay, bị cáo đang giam có mặt tại phiên tòa.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Võ Đức K, sinh năm 1967 và bà Trịnh Thị L, sinh năm 1971, cùng thường trú: thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, bà L có mặt, ông K vắng mặt.
3. Người làm chứng:
+ Anh Huỳnh N1, sinh năm 1983, nơi thường trú: thôn M, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
+ Anh Phạm Ngọc T4, sinh năm 1992, nơi thường trú: thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/4/2024, Nguyễn Hồng C1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76C1 – 187.25 dạo hỏi mua bò trong thôn T, xã B thì thấy Võ Đức V đang đứng tại sân nhà ông Võ Đức K, sinh năm 1966 ở tại thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi là cha ruột của Võ Đức V nên vào hỏi chuyện Võ Đức V. Trong lúc C1 và V đang nói chuyện thì Dương Thị Thu T5 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76X6 – 8428 ngang qua thấy V nên vào nói chuyện (V và T5 quen biết nhau trước đó).
Trước đó khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, Phạm K1 (K1 và V là bạn bè) có gọi điện hỏi V “dạo này có chơi gì không?” (tức là hỏi V có hay chơi đánh bài không) thì V trả lời “không có” nhưng do lâu ngày V và K1 chưa gặp nhau nên V nói với K1 qua nhà mình chơi.
Sau khi ăn cơm trưa xong, K1 điều khiển xe mô tô loại xe Sirius màu xám đen (không có biển kiểm soát) qua nhà V nhưng không thấy V ở nhà nên K1 tiếp tục điều khiển xe đi qua nhà ông Võ Đức K (nhà ông K và V cách nhau khoảng 300m). Tại nhà ông K, K1 gặp V, C1 và T5 nên cùng đứng nói chuyện với nhau. Qua một lúc nói chuyện, 04 người cùng rủ nhau đánh bài cào tố thắng thua bằng tiền, V về nhà của mình lấy bài Tây (vì nhà của V có bán bài Tây) rồi quay lại để cùng chơi. Cả nhóm vào phòng khách nhà ông K rồi lấy 01 cái dĩa, 01 tấm mền trải ra làm chiếu bạc và bắt đầu chơi đánh bài cào tố thắng thua bằng tiền với số tiền cược tố thấp nhất là 50.000đồng/01 người và cao nhất là 1.000.000đồng/01 người. Đến khoảng 14 giờ và 16 giờ cùng ngày thì lần lượt có Nguyễn Đình P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47P6 – 2738 và Lê Văn Q1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76U1 – 079.41 đi công việc ngang qua nhà ông Võ Đức K thấy số người trên đang đánh bạc nên vào tham gia chơi đánh bạc.
Đến khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày 23/4/2024 thì bị Công an xã B bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc và trên người các đối tượng tổng số tiền là 46.130.000đồng (Bốn mươi sáu triệu một trăm ba mươi nghìn đồng).
Quá trình tạm giữ, Dương Thị Thu T5 có khai nhận khi chơi đánh bạc đã thắng số tiền 2.600.000đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng) và đã giấu số tiền này vào quần lót chưa giao nộp cho Công an xã B và Nguyễn Đình P ngay sau khi bị bắt thì đã nhanh chóng giấu 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) vào quần lót, không giao nộp cho Công an xã B. Số tiền này bị được phát hiện khi đưa Dương Thị Thu T5 và Nguyễn Đình P vào Nhà tạm giữ Công an huyện (gửi vào sổ ký gửi). Qua làm việc, Dương Thị Thu T5 và Nguyễn Đình P đều xác định đây là tiền đã sử dụng vào việc đánh bạc.
Như vậy, tổng số tiền đánh bạc được xác định là 53.730.000đồng (Năm mươi ba triệu bảy trăm ba mươi ngàn đồng).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên Quyết định truy tố đối với các bị cáo Võ Đức V, Phạm K1, Nguyễn Hồng C1, Nguyễn Đình P, Lê Văn Q1 và Dương Thị Thu T5 về tội “Đánh bạc” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Cùng áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
- + Bị cáo Võ Đức V từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 04 (bốn) năm tù.
- + Bị cáo Nguyễn Hồng C1 từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
- + Bị cáo Nguyễn Đình P từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Cùng áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
- + Bị cáo Phạm Khánh T6 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
- + Bị cáo Lê Văn Q1 từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
- + Bị cáo Dương Thị Thu T5 từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng.
Vật chứng của vụ án:
Tiền Ngân hàng N2: 53.730.000đồng (Năm mươi ba triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng), trong đó: thu giữ tại chiếu bạc là 28.900.000đồng; thu giữ trên người các bị cáo số tiền dùng để đánh bạc là 24.830.000đồng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Tạm giữ 06 bộ bài tây chưa qua sử dụng, 03 bộ bài tây đã qua sử dụng; 01 tấm mền màu xanh - vàng - trắng đã qua sử dụng; 01 dĩa sành màu trắng. Đây là dụng cụ được các cáo sử dụng để thực hiện hành vi đánh bạc, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu cho tiêu hủy.
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại các tài sản không dùng vào việc phạm tội cho chủ sở hữu gồm: trả 01 điện thoại di động hiệu Samsung cho Nguyễn Hồng C1; trả 01 xe mô tô biển kiểm soát 76C1 – 187.25 do Nguyễn Thị H1 (là vợ đã ly hôn của Nguyễn Hồng C1); trả 01 điện thoại di động OPPO A16K và 01 xe mô tô biển kiểm soát 76X6 – 8428 cho cho Dương Thị Thu T5; trả 01 điện thoại OPPO A55, màu xanh và 01 xe mô tô biển kiểm soát 47P6 – 2738 cho Nguyễn Đình P; trả 01 xe mô tô biển kiểm soát 76U1 – 079.41 cho Lê Văn Q1; trả 01 xe mô tô không gắn biển số, loại xe Sirius màu xám đen, số khung RLCUE3740MY10658, số máy E32VE-390418 cho Phạm K1 là đúng quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Đối với 01 điện thoại Samsung Galaxy A53 5G, màu xanh của Phạm K1 và 01 điện thoại di động (không rõ nhãn hiệu) thì các bị cáo K1, V sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Các đối tượng có liên quan đến vụ án: Đối với ông Võ Đức K và vợ là bà Trịnh Thị L là chủ nhà nơi các bị cáo đánh bạc, tuy nhiên thời điểm này ông Võ Đức K đang điều trị bệnh tại Thành phố Đà Nẵng và bà Trịnh Thị L đi làm ngoài đồng ruộng nên không biết cũng được hưởng lợi gì từ hành vi đánh bạc của các bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đặt ra vấn đề xử lý hình sự là có căn cứ.
Ý kiến bào chữa, tranh luận của các bị cáo: Các bị cáo Võ Đức V, Phạm K1, Nguyễn Hồng C1, Nguyễn Đình P, Lê Văn Q1 và Dương Thị Thu T5 đều không có tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo Võ Đức V, Phạm K1, Nguyễn Hồng C1, Nguyễn Đình P, Lê Văn Q1 và Dương Thị Thu T5 đều đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên thu thập và người tham gia tố tụng khác cung cấp là phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
[1.2] Xét tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.3] Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Đức K vắng mặt nhưng hồ sơ vụ án đã có lời khai của ông Võ Đức K. Xét thấy, việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của bị cáo như bản cáo trạng đã truy tố, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; các tài liệu về hiện trường và các chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đã đủ căn cứ xác định:
Khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày 23/4/2024, Phạm K1 gọi điện hỏi V “dạo này có chơi gì không?” (tức là hỏi V có hay chơi đánh bài không) thì V trả lời “không có” và V nói với K1 qua nhà mình chơi. Sau đó, K1 điều khiển xe mô tô loại xe Sirius (không có biển số) đi qua nhà ông Võ Đức K (nhà của cha Võ Đức V) gặp V. Tại đây, V, K1, C1 và T5 rủ nhau đánh bài cào tố thắng thua bằng tiền, V về nhà của mình lấy bài Tây rồi cả nhóm vào phòng khách nhà ông K chơi đánh bài cào tố thắng thua bằng tiền với số tiền cược tố thấp nhất là 50.000đồng/01 người và cao nhất là 1.000.000đồng/01 người. Đến khoảng 14 giờ và 16 giờ cùng ngày thì lần lượt có Nguyễn Đình P và Lê Văn Q1 vào tham gia chơi đánh bạc. Đến khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày thì bị Công an xã B bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc và trên người các đối tượng dùng để đánh bạc tổng số tiền là 46.130.000đồng (Bốn mươi sáu triệu một trăm ba mươi nghin đồng); sau đó Công an huyện B thu giữ thêm trên người của bị cáo T5 số tiền 2.600.000đồng, bị cáo P 5.000.000đồng là tiền mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc nhưng không giao nộp khi bị Công an xã B bắt quả tang. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo Võ Đức V, Phạm K1, Nguyễn Hồng C1, Nguyễn Đình P, Lê Văn Q1 và Dương Thị Thu T5 đánh bạc là 53.730.000đồng (Năm mươi ba triệu bảy trăm ba mươi ngàn đồng).
Hành vi của các bị cáo Võ Đức V, Phạm K1, Nguyễn Hồng C1, Nguyễn Đình P, Lê Văn Q1 và Dương Thị Thu T5 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn truy tố các bị cáo Võ Đức V, Phạm K1, Nguyễn Hồng C1, Nguyễn Đình P, Lê Văn Q1 và Dương Thị Thu T5 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2] Xét tính chất, vai trò, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Các bị cáo Võ Đức V, Phạm K1, Nguyễn Hồng C1, Nguyễn Đình P, Lê Văn Q1 và Dương Thị Thu T5 đều là người có đầy đủ năng lực nhận thức, điều khiển hành vi nhưng ý thức tuân thủ pháp luật thấp; hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, ảnh hưởng đến nếp sống văn minh của xã hội; đánh bạc là một trong những tệ nạn xã hội, có thể gây ra những hệ lụy xấu đến chính gia đình bị cáo và những người chơi nhưng vì ham lợi bị cáo coi thường pháp luật, bất chấp những hệ lụy có thể xảy ra từ việc đánh bạc. Vì vậy, cần phải xử phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
[2.3] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Võ Đức V, Phạm K1, Nguyễn Hồng C1, Nguyễn Đình P, Lê Văn Q1 và Dương Thị Thu T5 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Võ Đức V có cha là ông Võ Đức K tham gia làm nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia, bị cáo Nguyễn Hồng C1 tham gia làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia, bị cáo Nguyễn Đình P là quân nhân dự bị nên được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
[2.4] Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung.
[2.5] Về xử lý vật chứng:
[2.5.1] Đối với số tiền 53.730.000đồng (Năm mươi ba triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng), trong đó: thu giữ tại chiếu bạc là 28.900.000đồng; thu giữ trên người các bị cáo số tiền dùng để đánh bạc là 24.830.000đồng (gồm thu của Võ Đức V là 12.150.000đồng; Nguyễn Hồng C1 là 4.060.000đồng; Dương Thị Thu T5 là 3.620.000 đồng; Nguyễn Đình P là 5.000.000đồng) Hội đồng xét xử cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[2.5.2] Đối với giữ 06 bộ bài tây chưa qua sử dụng, 03 bộ bài tây đã qua sử dụng; 01 tấm mền màu xanh - vàng - trắng đã qua sử dụng; 01 dĩa sành màu trắng. Đây là dụng cụ được các cáo sử dụng để thực hiện hành vi đánh bạc, chủ sở hữu là ông Võ Đức K và bà Trịnh Thị L không có yêu cầu nhận lại, không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử cần tuyên tịch thu cho tiêu hủy.
[2.5.3] Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại các tài sản cho chủ sở hữu gồm: trả 01 điện thoại di động hiệu Samsung cho Nguyễn Hồng C1; trả 01 xe mô tô biển kiểm soát 76C1 – 187.25 do Nguyễn Thị H1 (là vợ đã ly hôn của Nguyễn Hồng C1); trả 01 điện thoại di động OPPO A16K và 01 xe mô tô biển kiểm soát 76X6 – 8428 cho cho Dương Thị Thu T5; trả 01 điện thoại OPPO A55, màu xanh và 01 xe mô tô biển kiểm soát 47P6 – 2738 cho Nguyễn Đình P; trả 01 xe mô tô biển kiểm soát 76U1 – 079.41 cho Lê Văn Q1; trả 01 xe mô tô không gắn biển số, loại xe Sirius màu xám đen, số khung RLCUE3740MY10658, số máy E32VE-390418 cho Phạm K1 vì không dùng vào việc phạm tội là đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[2.5.4] Đối với 01 điện thoại Samsung Galaxy A53 5G, màu xanh của Phạm K1 và 01 điện thoại di động (không rõ nhãn hiệu), các bị cáo K1, V sử dụng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét cần xử tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[2.6] Đối với ông Võ Đức K và vợ là bà Trịnh Thị L là chủ nhà nơi các bị cáo đánh bạc tuy nhiên thời điểm này ông Võ Đức K và bà Trịnh Thị L đều không có nhà và không hưởng lợi gì từ hành vi phạm tội của các bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đặt ra vấn đề xử lý là có căn cứ, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[3] Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn: phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Xét ý kiến tranh luận: Các bị cáo đều không có tranh luận gì nên không xét.
[5] Xét lời nói sau cùng của các bị cáo: phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: các bị cáo; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Võ Đức V, Phạm K1, Nguyễn Hồng C1, Nguyễn Đình P, Lê Văn Q1 và Dương Thị Thu T5 phạm tội “Đánh bạc”
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Đức V 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/4/2024.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Khánh 0 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/4/2024.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Dương Thị Thu T5 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/4/2024.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình P 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/4/2024.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn Q1 03 (ba) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/4/2024.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng C1 03 (ba) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/4/2024.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- T7 tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 53.730.000đồng (Năm mươi ba triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng) đã được Công an huyện B Ủy nhiệm chi vào số tài khoản 3949.0.1068644.00000 của Chi cục Thi hành án dân huyện Bình Sơn mở tại Kho bạc nhà nước huyện B vào ngày 12/11/2024.
- T7 tịch thu cho tiêu hủy: 09 bộ bài, 01 cái mền, 01 đĩa sành đều có đặc điểm theo như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn.
- T7 tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động (không rõ nhãn hiệu, màu tím, phía sau có hình quả táo) của bị cáo Võ Đức V và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A53 5G, màu xanh của bị cáo Phạm K1, đều có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên buộc các bị cáo Võ Đức V, Phạm K1, Nguyễn Hồng C1, Nguyễn Đình P, Lê Văn Q1 và Dương Thị Thu T5 mỗi bị cáo có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo Võ Đức V, Phạm K1, Nguyễn Hồng C1, Nguyễn Đình P, Lê Văn Q1 và Dương Thị Thu T5 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19/11/2024).
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm đối với phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19/11/2024) nếu có mặt tại phiên tòa hoặc 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết nơi cư trú nếu vắng mặt tại phiên tòa.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Tương |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Bùi Tấn Sinh Nguyễn Văn T8 |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị T9 |
Bản án số 07/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 07/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: các bị cáo Võ Đức Việt, Phạm Khánh, Nguyễn Hồng Cư, Nguyễn Đình Phụng, Lê Văn Quảng và Dương Thị Thu Thủy phạm tội “Đánh bạc”
