Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẦM HÀ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/HS-ST

Ngày 06-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Tuấn Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Nguyễn Văn Tú

  • - Ông Ty Văn Hường

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hà – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Đức Hạnh Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đặng Văn H:

    sinh ngày 23/8/1995 tại huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Văn H1 và bà: Lê Thị N; Vợ, con: chưa có.

    Tiền án, tiền sự: chưa có.

    Bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 01/01/2024. Hiện đang tạm giam. Có mặt tại phiên toà.

  2. Hà Văn C:

    sinh ngày 08/10/1998 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn; Nơi cư trú: thôn Y, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hà Văn T và bà: Hoàng Thị T1; Vợ, con: chưa có.

    Tiền án, tiền sự: chưa có.

    Bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 01/01/2024. Hiện đang tạm giam. Có mặt tại phiên toà.

  3. Đinh Văn K:

    sinh ngày 28/3/1998 tại huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: thôn Y, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đinh Văn N1 và bà: Bùi Thị G; Vợ, con: chưa có.

    Tiền án, tiền sự: chưa có.

    Bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 01/01/2024, bị tạm giam đến ngày 10/02/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh từ ngày 10/2/2024 đến nay do bị bệnh, sức khỏe yếu. Có mặt tại phiên toà.

  4. Đinh Văn H2:

    sinh ngày 18/01/1993 tại huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đinh Văn K1 và bà: Ngô Thị T2; Vợ: Hà Ngọc H3, sinh năm 1996, có 01 con sinh năm 2016.

    Tiền án, tiền sự: chưa có.

    Bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 01/01/2024. Hiện đang tạm giam. Có mặt tại phiên toà.

  5. Nguyễn Xuân D:

    sinh ngày 16/10/1974 tại huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Khu phố V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Giáo viên; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Xuân Q (đã chết) và bà: Trần Thị N2; Vợ: Nguyễn Thị Thu H4, có 01 con sinh năm 2006.

    Tiền án, tiền sự: chưa có.

    Đầu thú ngày 01/02/2024, bị tạm giữ đến ngày 07/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 07/02/2024 đến nay; Có mặt tại phiên toà.

  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn C1, sinh ngày: 02/3/1990, nơi cư trú: thôn Y, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

  • - Người chứng kiến: Anh Đinh Văn H5, sinh ngày 01/01/1961, nơi cư trú: thôn Y, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đinh Văn K, Đinh Văn H2, Đặng Văn H, Hà Văn C và Trần Văn C1 (sinh năm 1990, trú tại thôn Y, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh) có quen biết nhau từ trước. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 31/12/2023, H, C, C1 cùng ngồi ăn tại nhà của H thuộc thôn T, xã Đ, huyện Đ thì H nảy sinh ý định mua ma túy “đá” nên nói với C, C1 “hay làm tí về chơi nhỉ”, C hiểu là H rủ mua ma túy về cùng sử dụng nên đồng ý, C1 không nói gì. C dùng tài khoản Messenger “Anh C” còn H dùng tài khoản Zalo “Mai Anh B” trên điện thoại gọi điện rủ H2, K góp tiền mua ma tuý và bảo K đi mua 1.000.000 đồng ma túy “đá”, H2 và K đồng ý. Sau đó, H2 sử dụng điện thoại di động (ĐTDĐ) nhãn hiệu VIVO Y19, màu xanh, thuê bao số 0346.157.929 và 0379.383.866 chuyển 200.000 đồng từ tài khoản ngân hàng T3 số [...] của H2 vào tài khoản ngân hàng V số 1014330206 của H để góp tiền mua ma tuý. Hợi dùng ĐTDĐ nhãn hiệu Vivo V2026, màu đen, thuê bao số 0782.020.130 và 0398.221.828 chuyển từ tài khoản ví Momo của mình tổng số tiền 550.000 đồng vào tài khoản ngân hàng V1 số [...] cho K (trong đó: 350.000 đồng là tiền của H, 200.000 đồng là tiền của H2 vừa góp). Sau khi nhận được tiền của H chuyển, K đã góp thêm 550.000 đồng rồi dùng ĐTDĐ Iphone 7 Plus, màu đen, không lắp sim nhắn tin từ tài khoản Zalo “Anh K” đăng ký bằng số thuê bao 0388.228.768 nhắn tin cho Nguyễn Xuân D, qua tài khoản Zalo “Nguyễn D” đăng ký số thuê bao 0977.749.417 hỏi mua ma túy “đá” và chuyển cho D số tiền 1.100.000 đồng qua tài khoản ngân hàng A số 8006215012580 của D, trong đó 1.000.000 đồng là tiền mua ma tuý "đá", còn 100.000 đồng là tiền công đi lại của D và hẹn gặp nhau tại khu vực đầu đường đi vào B thuộc thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ninh để lấy ma túy “đá”. Sau đó, C lấy xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 14U1-069.06 của C chở K đến điểm hẹn. Tại đây, D đưa cho K 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (01x02)cm, bên trong chứa ma tuý "đá".

Sau khi mua được ma túy, C chở K về nhà của K thuộc thôn Y, xã Đ, huyện Đ, K đưa cho C túi ma túy “đá” và hẹn đến khu vực đồng ruộng ở thôn Y, xã Đ để cùng sử dụng. Sau đó, K đi vào nhà lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy, còn C điều khiển xe máy đến nhà H để đón H và C1 đi sử dụng ma tuý. Do mệt nên H từ chối không đi, C đón C1 đến điểm hẹn rồi gọi điện thông báo địa điểm cho H2, còn K đi xe mô tô BKS 14M1-022.29 đến đưa cho C bộ dụng cụ sử dụng ma túy để C lắp ráp và đổ túi ma túy “đá” vào coóng thủy tinh. Sau đó, H2 đi xe mô tô BKS 14M1-008.93 đến cả bọn cùng nhau lần lượt sử dụng ma túy. Khoảng 23 giờ 20 phút cùng ngày, thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện bắt giữ.

Vật chứng thu giữ: 02 túi nilon màu trắng trong suốt đều có kích thước (KT) (2,0x1,5)cm, miệng túi có có gờ nhựa để đóng mở, bên trong mỗi túi đều có chứa chất tinh thể màu trắng; 01 chai nhựa có thể tích khoảng 250ml, nắp chai màu đỏ đã được đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống nhựa màu trắng, dài khoảng 16 cm, 01 lỗ có cắm ống thủy tinh dài khoảng 09 cm, đường kính thân ống khoảng 0,5cm có một đầu bên ngoài chai nhựa có dạng uốn cong gập, phần đầu có dạng ống hình cầu đường kính khoảng 1,5 cm và có lỗ đường kính 0,5 cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, một đầu bên trong chai nhựa có gắn với một ống nhựa dài khoảng 09 cm, đường kính khoảng 0,5 cm; 03 chiếc bật lửa ga. Ngoài ra, còn thu giữ của H2 01 xe mô tô 14M1-022.29 và 01 ĐTDĐ VIVO Y19, màu xanh, thuê bao số 0346.157.929 và 0379.383.866; thu giữ của C xe mô tô BKS 14U1-069.06 và 01 ĐTDĐ Iphone 6, màu vàng, thuê bao số 0969.732.687; thu giữ của K 01 xe mô tô BKS 14M1-022.29 và 01 ĐTDĐ Iphone 7 Plus, màu đen, không lắp sim; thu giữ của C1 01 ĐTDĐ Redmi 10, màu đen, thuê bao số 0869.265.990. Thu giữ của Hợi 01 ĐTDĐ Vivo 2026, màu đen, thuê bao số 0782.020.140 và 0938.21.828.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Đinh Văn K tại thôn Y, xã Đ, huyện Đ, thu giữ trong chiếc loa để trên cửa sổ phía Tây trong phòng ngủ của K 01 túi nilon màu trắng KT khoảng (2,0x1,5)cm, miệng túi có gờ nhựa để đóng mở, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. K khai là ma túy “đá” trước đó mua của D về để sử dụng.

Ngày 01/02/2024, Nguyễn Xuân D đến Cơ quan Cảnh sát điều tra (CQCSĐT) Công an huyện Đ đầu thú. Thu giữ của Dần 01 ĐTDĐ Vivo 1906, màu xanh, thuê bao số 0977.749.417 và 0869.310.816; 02 thẻ rút tiền tự động (ATM) của ngân hàng A, số 9704051077483587 và 9704053075595305 đều mang tên Nguyễn Xuân D.

Tại các bản Kết luận giám định số 30/KL- KTHS; 31/KL-KTHS ngày 05/01/2024 và số 32/KL-KTHS ngày 06/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Q, kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong 02 túi nilon kích thước (02x1,5)cm và chất cặn dạng vết màu trắng đục trong ống thủy tinh thu giữ của Trần Văn C1, Đinh Văn K, Hà Văn C, Đinh Văn H2 ngày 31/12/2023 là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng lần lượt là 0,027g; 0,012g và dạng vết không xác định được. Chất tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon kích thước (1,5x02)cm thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đinh Văn K ngày 01/01/2024 là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,096g. Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Đinh Văn H2, Trần Văn C1, Hà Văn C, Đinh Văn K, Đặng Văn H.

Quá trình điều tra, các bị cáo Đinh Văn K, Đặng Văn H, Hà Văn C, Đinh Văn H2 và Nguyễn Xuân D thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Ngoài ra, K, H, D và Trần Văn C1 còn khai: Trước đó khoảng 16 giờ 30 phút ngày 31/12/2023, C1, K và H rủ nhau góp tiền mua ma túy “đá” về sử dụng (Hợi góp 300.000 đồng, C1 góp 200.000 đồng, còn K góp 540.000 đồng, tổng cộng 1.040.000 đồng). Sau đó, cũng bằng hình thức chuyển khoản, K chuyển cho D số tiền 1.040.000 đồng để mua ma túy “đá”. Sau khi mua được ma túy của D, cả nhóm đem ra khu vực cánh đồng thuộc thôn Y, xã Đ, huyện Đ để sử dụng. Ngoài ra, D còn khai nhận: nguồn gốc số ma túy D bán 02 lần cho K vào ngày 31/12/2023 là của D được một người đàn ông tên là H1 (không rõ lai lịch cụ thể chỉ biết là nhà ở thành phố C) cho D vào cuối tháng 12 năm 2023. Số ma túy này D đã bán cho K và sử dụng hết.

Xử lý vật chứng: Đối với 03 xe mô tô có BKS lần lượt là 14M1-022.29, 14M1-008.93, 14U1-069.06 thu giữ của K, H2, C thuộc sở hữu hợp pháp của chị Đinh Thị H6, anh Đinh Văn K1, anh Nguyễn Thanh S, nhưng không biết việc các bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội nên CQCSĐT đã trả lại xe cho các chủ sở hữu hợp pháp. Đối với số ma túy hoàn lại sau giám định và các vật chứng thu giữ còn lại, C2 đã nhập kho vật chứng chờ chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Hà để bảo quản, xử lý theo quy định.

Cáo trạng số 358/CT-VKSĐH ngày 23/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà truy tố các bị cáo Đặng Văn H, Hà Văn C, Đinh Văn K, Đinh Văn H2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Xuân D về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn C1 tại cơ quan điều tra và đơn đề nghị xét xử vắng mặt có lời khai thể hiện: Khoảng 20 giờ 30 tối ngày 31/12/2023, C1 cùng Đinh Văn H7 và Hà Văn C cùng ngồi ăn tại nhà của H7 ở thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh thì H7 nói với C1 và C “mua về làm tí nhỉ” thì C1 không nói gì. Sau đó, C gọi điện rủ thêm Đinh Văn H2 và Đinh Văn K, thỏa thuận giữa C, H2, K như thế nào thì C1 không nắm được. Sau khi K đến nhà H7 thì C lấy xe mô tô chở K đi mua ma túy. Một lúc sau C quay lại nhà H7 để đón C1 và H7 đi sử dụng ma túy thì H7 bảo mệt không đi nên C chở C1 đến khu vực cánh đồng ở thôn Y, xã Đ để sử dụng ma túy. Đến nơi, C gọi điện cho H2 thông báo điểm hẹn, còn K đi xe mô tô đến đưa cho C bộ dụng cụ sử dụng ma túy để C lắp ráp và đổ ma túy đá vào coóng thủy tinh để sử dụng. Đến khoảng 23 giờ 20 phút cùng ngày, khi đang sử dụng ma túy thì bị Công an huyện phát hiện bắt giữ. Khi bị bắt giữ, C1 bị thu giữ 01 chiếc điện thoại di động Redmi 10, thuê bao số 0869.265.990. C1 có quan điểm xin được nhận lại chiếc điện thoại và sim. Ngoài ra, C1 không có yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa các bị cáo Đặng Văn H, Hà Văn C, Đinh Văn K, Đình Văn H8, Nguyễn Xuân D đều thừa nhận hành vi phạm tội mình đã thực hiện như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố đối với các bị cáo. Các bị cáo không thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng, không khiếu nại thắc mắc gì về kết luận giám định, các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đặng Văn H, Hà Văn C, Đinh Văn K, Đinh Văn H2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Xuân D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Đặng Văn H, Hà Văn C từ 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù đến 8 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 01/01/2024.

  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Đinh Văn H2 từ 7 (bảy) năm đến 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 01/01/2024.

  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Đinh Văn K từ 7 (bảy) năm đến 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án được trừ đi số ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/01/2024 đến ngày 10/02/2024.

  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản1 Điều 54 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân D từ 6 (sáu) năm tù đến 6 (sáu) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 01/02/2024.

Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

  • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 30/KL-KTHS, mặt sau có hình dấu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh Q và chữ ký của Bùi Trọng Q1 và Đỗ Quang N3 bên trong chứa 01 ống thuỷ tinh một đầu uốn cong có bầu tròn và các vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong số 32/KL-KTHS, mặt sau có hình dấu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh Q và chữ ký của Vũ Việt P và Đỗ Quang N3 bên trong chứa chất ma tuý và các vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 chai nhựa có thể tích khoảng 250ml, bên ngoài có dán cỏ in nhãn hiệu nước uống điện giải ZoZoL, nắp chai màu đỏ đã được đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống nhựa màu trắng, dài khoảng 16 cm, 01 lỗ có cắm ống nhựa dài khoảng 09 cm; 03 chiếc bật lửa ga và 07 thẻ sim trong máy điện thoại của H2, C, H, D.

  • - Trả lại: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu 01 ĐTDĐ Redmi 10, màu đen, thuê bao số 0869.265.990 cho Trần Văn C1; 02 thẻ rút tiền tự động (ATM) của ngân hàng A, số 9704051077483587 và 9704053075595305 cho Nguyễn Xuân D.

  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y19, màu xanh của Đinh Văn H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng của Hà Văn C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen của Đinh Văn K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 2026, màu đen, của Đặng Văn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1906, màu xanh, của Nguyễn Xuân D.

  • - Truy thu của Nguyễn Xuân D số tiền 2.140.000 (hai triệu một trăm bốn mươi nghìn) đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng; không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Trần Văn C1 vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin xét xử vắng mặt việc vắng mặt của anh C1 không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về chứng cứ xác định có tội:

Đối chiếu lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản sự việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định của Phòng K2 Công an tỉnh Q, cùng các tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định:

Tối ngày 31/12/2023, Đặng Văn H, Hà Văn C, Đinh Văn K và Đinh Văn H2 rủ nhau góp 1.100.000 đồng mua của Nguyễn Xuân D 01 túi ma túy, loại Methamphetamine rồi đem ra khu vực cánh đồng thuộc thôn Y, xã Đ, huyện Đ để cùng tổ chức sử dụng, trong đó có Trần Văn C1 cùng tham gia. Đến khoảng 23 giờ 20 phút cùng ngày, khi cả nhóm đang sử dụng ma túy, thì bị Công an kiểm tra phát hiện, bắt giữ. Trước đó, vào khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, tại khu vực thuộc thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ninh Nguyễn Xuân D còn có hành vi bán trái phép 01 túi ma túy, loại Methamphetamine, với giá 1.040.000 đồng cho Đinh Văn K để sử dụng.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Đặng Văn H, Hà Văn C, Đinh Văn K, Đinh Văn H2 và Nguyễn Xuân D là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, tiếp tay cho hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, xâm phạm trật tự an ninh xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe về tinh thần, thể chất và tài sản của người sử dụng, gây lo lắng buồn phiền cho những người thân trong gia đình mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và loại tội phạm khác. Các bị cáo H, C, K, H2, D là người trưởng thành có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ ma túy là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, mua bán trao đổi, sử dụng nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân, muốn kiếm tiền nhanh mà các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Do các bị cáo H, C, K, H2 tổ chức cho nhiều người cùng sử dụng ma tuý, do vậy hành vi của các bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt “đối với hai người trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Bị cáo D bán 02 lần ma tuý cho bị cáo K, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS.

Tại phiên toà các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo bản Cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Đặng Văn H, Hà Văn C, Đinh Văn K, Đinh Văn H2 phạm tội Tổ chức trái phép chất ma tuý được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Xuân D phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Điều 255 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a, ....

b, Đối với 02 người trở lên.

Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

...”

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo H, C, K, H2, D đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết xem xét giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

  • Bị cáo D có bố đẻ là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Ngoài ra, trong quá trình công tác bị cáo D nhiều năm đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp huyện. Do vậy bị cáo D được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  • - Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội, khách thể xâm phạm, lỗi và nhân thân các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo việc cải tạo, giáo dục riêng đối với các bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh, phòng ngừa chung đối với xã hội.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà đề nghị áp dụng điều luật và mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ pháp luật.

[5] Xét vai trò, nhân thân của các bị cáo và hướng xử lý:

Trong vụ án này các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn. Trong đó bị cáo H là người chủ mưu, khởi xướng, rủ rê các bị cáo C3, K chung tiền cùng nhau tổ chức sử dụng ma tuý và là người bỏ tiền, nhận tiền từ bị cáo H2 để chuyển cho K để K và C3 đi mua ma tuý. Sau khi được bị cáo H khởi xướng việc tổ chức sử dụng ma tuý thì C3 đã tích cực tìm người góp tiền để mua ma tuý, cùng bị cáo K đi mua ma tuý, sau khi mua được ma tuý quay về rủ anh C1 đi sử dụng ma tuý cùng. Còn bị cáo K sau khi được H và C3 rủ sử dụng ma tuý thì K đã góp tiền để mua ma tuý, trực tiếp giao dịch mua ma tuý, chuẩn bị công cụ để để sử dụng ma tuý. Nên các bị cáo H, C3 và K giữ vai trò như nhau. Đứng vai trò sau cùng là bị cáo H2, sau khi được C3 rủ chung tiền mua ma tuý sử dụng bị cáo đã đồng ý góp tiền để sử dụng ma tuý cùng các bị cáo còn lại. Bị cáo D phải chịu hình phạt tương ứng về hành vi phạm tội độc lập của bị cáo. Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, cần thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên bị cáo K sau khi phạm tội đã bị bệnh hiểm nghèo, tổn thương sức khoẻ 76% nên khi lượng hình có thể giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Về vật chứng:

  • - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu 01 ĐTDĐ Redmi 10, màu đen và 01 sim kèm theo điện thoại là tài sản của C1 không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho C1; 02 thẻ rút tiền tự động (ATM) của ngân hàng A, số 9704051077483587 và 9704053075595305 là tài sản của D nên trả lại cho D.

  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y19, màu xanh của Đinh Văn H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng của Hà Văn C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen của Đinh Văn K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 2026, màu đen của Đặng Văn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1906, màu xanh của Nguyễn Xuân D các bị cáo dùng để rủ nhau sử dụng ma tuý và liên hệ để mua ma tuý nên tịch thu sung ngân sách nhà nước. 07 sim điện thoại đi kèm những chiếc điện thoại nói trên không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

  • - 01 phong bì niêm phong số 30/KL-KTHS, mặt sau có hình dấu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh Q và chữ ký của Bùi Trọng Q1 và Đỗ Quang N3 bên trong chứa 01 ống thuỷ tinh một đầu uốn cong có bầu tròn và các vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong số 32/KL-KTHS, mặt sau có hình dấu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh Q và chữ ký của Vũ Việt P và Đỗ Quang N3 bên trong chứa chất ma tuý và các vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 chai nhựa có thể tích khoảng 250ml, bên ngoài có dán in nhãn hiệu nước uống điện giải ZoZoL, nắp chai màu đỏ đã được đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống nhựa màu trắng, dài khoảng 16 cm, 01 lỗ có cắm ống nhựa dài khoảng 09 cm; 03 chiếc bật lửa ga là vật không có giá trị sử dụng và cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ.

  • - Số tiền 2.140.000 (hai triệu một trăm bốn mươi nghìn) đồng là số tiền bị cáo D có được do bán ma tuý mà có, bị cáo đã tiêu hết số tiền trên nên cần truy thu sung ngân sách Nhà nước.

[7] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Đặng Văn H, Hà Văn C, Đinh Văn K, Đinh Văn H2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Nguyễn Xuân D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Đặng Văn H 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/01/2024.

  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Hà Văn C 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/01/2024.

  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Đinh Văn K 7 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án được trừ đi số ngày tạm giữ, tạm giam từ 01/01/2024 đến ngày 10/02/2024.

  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Đinh Văn H2 7 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/01/2024.

  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Nguyễn Xuân D 6 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/02/2024.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

  • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 30/KL-KTHS, mặt sau có hình dấu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh Q và chữ ký của Bùi Trọng Q1 và Đỗ Quang N3 bên trong chứa 01 ống thuỷ tinh một đầu uốn cong có bầu tròn và các vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong số 32/KL-KTHS, mặt sau có hình dấu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh Q và chữ ký của Vũ Việt P và Đỗ Quang N3 bên trong chứa chất ma tuý và các vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 chai nhựa có thể tích khoảng 250ml, bên ngoài có dán cỏ in nhãn hiệu nước uống điện giải ZoZoL, nắp chai màu đỏ đã được đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống nhựa màu trắng, dài khoảng 16 cm, 01 lỗ có cắm ống nhựa dài khoảng 09 cm; 03 chiếc bật lửa ga có dán nhãn Hoa Việt; 07 sim điện thoại lắp trong các điện thoại di động của H, C, H2, D.

  • - Trả lại: cho Trần Văn C1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu 01 ĐTDĐ Redmi 10, màu đen, số Imei 1: 867108064189783/01, số Imei 2: 867108064189791/01 và 01 sim kèm theo điện thoại; Nguyễn Xuân D 02 thẻ rút tiền tự động (ATM) của ngân hàng A, số I và 9704053075595305.

  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y19, màu xanh, số Imei 1: 8638610541117271, số Imei 2: 863861054117263 của Đinh Văn H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng số Imei: 35207468436962 của Hà Văn C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen số Imei: 353817087887147 của Đinh Văn K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 2026, màu đen số Imei 1: 864415058021051, số Imei 2: 864415058021044 của Đặng Văn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1906, màu xanh số Imei 1: 8686130407566752, số Imei 2: 8686130407566745 của Nguyễn Xuân D.

  • - Truy thu của Nguyễn Xuân D số tiền 2.140.000 (hai triệu một trăm bốn mươi nghìn) đồng để sung ngân sách Nhà nước.

(Toàn bộ vật chứng tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/8/2024 giữa Công an Huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Hà).

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai có mặt các bị cáo. Báo cho các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKS; CA; THADS huyện Đầm Hà;

  • - TAND, VKSND tỉnh Quảng Ninh;

  • - Nhà tạm giữ CA huyện Đầm Hà;

  • - Cơ quan thi hành án Hình sự;

  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh;

  • - Các bị cáo;

  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Vũ Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 07/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn H, Hà Văn C, Đinh Văn K, Đinh Văn H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Nguyễn Xuân D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger