|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA PA TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 07/2024/HS-ST Ngày: 06/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA PA, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Viết Thịnh.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông: Nay Phen; Bà: Trịnh Thị Thanh Hồng.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Chinh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST - HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Siu Phiơr (tên gọi khác Siu P), sinh năm 1975 tại tỉnh Gia Lai; Nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã P, huyện I, tỉnh Gia Lai; Nơi sinh sống: Thôn C, xã P, huyện I, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa ( học vấn): Không đi học; dân tộc: Ja rai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch; Việt Nam; con ông: Rmah Đ, sinh năm 1950 và bà Siu H, sinh năm 1951; Năm 1996 sống chung như vợ chồng với Rmah H1 (tên gọi khác Ksor H2) sinh năm 1980, có 02 người con với Rmah H’Yat, con lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 1999; năm 2003, sống chung như vợ chồng với Đinh A M, sinh năm 1990, có 02 người con với Đinh A M, con lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2014; tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 07/6/2001, bị Toà án nhân dân huyện Ayun Pa (nay là thị xã A), tỉnh Gia Lai, xử phạt 06 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản của”. Ngày 05/9/2001, bị Toà án nhân dân huyện Ayun Pa (nay là thị xã A), tỉnh Gia Lai, xử phạt 18 tháng tù, về tội: “Trốn khỏi nơi giam giữ”, chấp hành án tại Trại giam Đ1, tỉnh Đắk Lắk, ngày 20/3/2003 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Các bản án trên đã được xoá án tích; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/12/2023 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
2. Đinh K, sinh năm 1991 tại tỉnh Gia Lai; Nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã P, huyện I, tỉnh Gia Lai; Nơi sinh sống: Thôn C, xã P, huyện I, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa ( học vấn): Không đi học; dân tộc: Ba Na; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch; Việt Nam; con ông: Đinh L, sinh năm 1960 và bà: Đinh MĐer (chết); vợ: Đinh B, sinh năm 1986; có 05 người con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2019; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/12/2023 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
3. Đinh B1, sinh năm 1976 tại tỉnh Gia Lai; Nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã P, huyện I, tỉnh Gia Lai; Nơi sinh sống: Thôn C, xã P, huyện I, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa ( học vấn): 01/12; dân tộc: Ba Na; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch; Việt Nam; con ông: Đinh Bách (đã chết) và bà: Đinh H3, sinh năm 1948; vợ: Đinh T, sinh năm 1980; có 03 người con, lớn sinh 2003, nhỏ sinh năm 2018; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/01/2024 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
4. Đinh T1, sinh năm 1971 tại tỉnh Gia Lai; Nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã P, huyện I, tỉnh Gia Lai; Nơi sinh sống: Thôn C, xã P, huyện I, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa ( học vấn): 01/12; dân tộc: Ba Na; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch; Việt Nam; con ông: Đinh Luôi (đã chết) và bà: Đinh Dơl (đã chết); vợ: Đinh C, sinh năm 1971; có 05 người con, lớn sinh 1990, nhỏ sinh năm 2010; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/01/2024 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
5. Đinh C1, sinh năm 1980 tại tỉnh Gia Lai; Nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã P, huyện I, tỉnh Gia Lai; Nơi sinh sống: Thôn C, xã P, huyện I, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa ( học vấn): 01/12; dân tộc: Ba Na; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch; Việt Nam; con ông: Đinh Bdư (đã chết) và bà: Đinh N, sinh năm: 1959: vợ : Đinh N1, sinh năm 1982; có 04 người con, lớn sinh 2002, nhỏ sinh năm 2011; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/01/2024 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
6. Đinh D, sinh năm 1983 tại tỉnh Gia Lai; Nơi đăng ký thường trú: Thôn P, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai; Nơi sinh sống: Thôn P Ơi H, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa ( học vấn): 01/12; dân tộc: Ba Na; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch; Việt Nam; con ông: Đinh Luôi (đã chết) và bà: Đinh Dơl (đã chết); vợ: R’ô H’Điêr, sinh năm 1983; có 02 người con, lớn sinh 2012, nhỏ sinh năm 2017; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/01/2024 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Các bị cáo Siu P1 và Đinh K, bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai truy tố về tội : “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Các bị cáo Đinh D, Đinh B1, Đinh T1 và Đinh C1, bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai truy tố về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
- Bị hại: Chị Đinh Thị H4, sinh năm 1988; Trú tại: Thôn D, xã P, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Bà Đinh T2, sinh năm 1978; Trú tại: Thôn C, xã P, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- + Bà Lê Thị C2, sinh năm 1954; Trú tại: Thôn C, xã P, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- + Bà Đinh A, sinh năm 1978; Trú tại: Thôn C, xã P, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- + Chị Rơ ô H5 Điêr, sinh năm 1983; Trú tại: Thôn P Ơi H, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- + Chị Rmah H1, sinh năm 1980; Trú tại: Thôn V, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- + Chị Đinh A M, sinh năm 1990; Trú tại: Thôn C, xã P, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- - Người phiên dịch tiếng Ja Rai: Ông Ksor B2, sinh năm 1976; Trú tại: Tổ dân phố A, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- - Người phiên dịch tiếng Ba Na: Ông Đinh K1, sinh năm 1987; Trú tại: Thôn E, xã P, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 15 tháng 9 năm 2023, Siu P1 và Đinh K, mang cuốc, dao rựa và giỏ xách đi đến khu vực nhà kho trong rẫy trồng chanh dây của gia đình chị Đinh Thị H4 thuộc thôn B, xã P, huyện I để đào cây sả. Tại đây, K nhìn thấy ở hồ nước có 01 (một) máy bơm nước không có người trông coi nên K rủ P1 lấy trộm và được P1 đồng ý. Tiếp đó, K đi đến rút dây điện của máy bơm nước, còn P1 dùng dao rựa cắt dây điện, rồi lấy máy bơm nước và dây điện cho vào giỏ xách của K. Sau đó, P1 và K mang máy bơm nước đến nhà bà Lê Thị C2 rồi nói là máy bơm nước của nhà không sử dụng nên bán máy bơm nước cho bà C2 với số tiền 70.000 đồng. Sau khi bán máy bơm xong, cả hai dùng số tiền đó mua rượu, thuốc lá và cùng nhau sử dụng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, P1 rủ K tiếp tục đi đến rẫy trồng Chanh dây của chị H4 để lấy trộm tài sản, K đồng ý. Sau đó, P1 và K đi bộ đến phía sau nhà kho ở rẫy trồng Chanh dây của chị H4 thì phát hiện có 02 (hai) thùng phi nên mỗi người lấy trộm 01 (một) thùng phi đem về nhà từng người cất giấu. Tổng giá trị thiệt hại theo kết luận định giá tài sản là 2.165.600 đồng.
Ngoài vụ trộm cắp nêu trên ra, S và Đinh K còn khai nhận trước đó đã thực hiện 03 (ba) vụ trộm cắp tài sản của gia đình chị Đinh Thị H4, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 17 giờ một ngày trong tháng 6/2023 (không xác định được ngày cụ thể), Siu P1 và Đinh K cùng nhau đi bắt chuột tại khu vực nhà kho gần máy ép tinh dầu xả trên rẫy trồng Chanh dây của gia đình chị Đinh Thị H4 thuộc thôn B, xã P, huyện I, thì cả hai thấy 01 (một) xe rùa nên P1 và K đã nảy sinh ý định trộm cắp xe rùa trên để bán lấy tiền tiêu xài. Tiếp đó, P1 tiến lại tiếp cận xe rùa và đẩy đi về nhà, còn K đi theo sau. Khi P1 đi được khoảng 200m thì giao lại cho K tiếp tục đẩy xe rùa đi về nhà tại thôn C, xã P, huyện I. Sau đó, cả hai mang bán cho bà Đinh A, do không biết là xe rùa do trộm cắp mà có nên bà Đinh A đã mua lại xe rùa trên với số tiền 220.000 đồng. Số tiền bán được thì P1 và K cùng nhau tiêu xài cá nhân hết. Giá trị thiệt hại theo kết luận định giá tài sản là 250.000 đồng.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 21 giờ một ngày trong tháng 6/2023 (không xác định được ngày cụ thể), Siu P1 đi đến rẫy trồng Chanh dây của gia đình chị Đinh Thị H4, tại thôn B, xã P, huyện I để bắt chuột thì phát hiện trong nhà kho có 04 (bốn) bình bơm thuốc nên P1 nảy sinh ý định lấy trộm số bình bơm này. Tuy nhiên, do cửa nhà kho bị khóa nên P1 không lấy trộm được nên đi về. Đến đêm ngày hôm sau, trong lúc ngồi uống rượu thì P1 rủ K đi lấy trộm bình bơm thuốc trong nhà kho trên rẫy của chị H4 thì K đồng ý đi cùng. Sau đó, P1 mang theo 01 (một) cái kéo rồi cùng K đi đến rẫy gia đình chị H4. Trên đường đi, do say rượu nên K nằm lại ở ven đường ngủ, còn P1 đi một mình. Đến nơi, P1 dùng kéo cạy ổ khóa cửa nhà kho rồi đi vào bên trong thì thấy có 04 (bốn) bình bơm thuốc, P1 lấy 02 (hai) bình bơm mang về nhà cất giấu ở gầm giường nhà mình. Sau đó, P1 ngồi tại nhà uống nước, hút thuốc khoảng 30 phút thì tiếp tục đi đến nhà kho ở rẫy chị H4 lấy trộm 02 (hai) bình bơm còn lại rồi mang về cất giấu ở bếp của nhà mình, sáng ngày hôm sau Đinh K đến nhà Siu P1 thì được Phiơr thông báo trộm được 04 (bốn) bình bơm thuốc của gia đình chị H4 và được K đồng ý. Sau khi bán bình bơm thì cả hai cùng mua rượu, mồi nhậu chung. Tổng giá trị thiệt hại theo kết luận định giá tài sản là 3.650.000 đồng
Khoảng 03 (ba) ngày sau, Phiơr mang 01 (một) bình bơm lấy trộm được trước đó đến nhà Đinh T1 để tìm người mua. Tại đây, P1 gặp Đinh D, P1 hỏi D “mày có thích mua bình bơm không”, D nói “Có, bán bao nhiêu tiền”, P1 nói “B3 ăn trộm, giá 500.000 đồng”. Nghe vậy, mặc dù biết bình bơm do P1 trộm cắp mà có nhưng D thấy rẻ và đang có nhu cầu sử dụng nên D đã mua bình bơm thuốc trên với số tiền 300.000 đồng. Khoảng 02 (hai) ngày sau đó, P1 đến nhà Đinh B1 để chơi, P1 hỏi B1 “tao có bình bơm mày có mua không, bình mới ăn trộm”, B1 nói “bán bao nhiêu tiền”, P1 nói “600.000 đồng/bình”, mặc dù biết bình bơm trên do Phiơr trộm cắp mà có nhưng B1 vẫn muốn mua và trả giá 500.000 đồng/bình thì P1 đồng ý bán. Sau đó, P1 về nhà mang 02 (hai) bình bơm trộm cắp được trước đó đến nhà B1, B1 xem 02 (hai) bình còn sử dụng được nên đã đồng ý mua với số tiền 1.000.000 đồng. Hôm sau, Đinh C1 đến nhà B1 chơi. Tại đây, B1 kể cho C1 nghe mới mua được 02 (hai) bình bơm thuốc do Siu P1 trộm cắp được và hỏi C1 có muốn mua lại không, C1 nói “để lại cho C1 01 cái”. Sau đó, C1 đã mua lại của Bóch 01 (một) bình bơm với giá 500.000 đồng.
Khoảng 02 (hai) ngày sau khi bán bình bơm cho Đinh B1, P1 đến nhà Đinh T1, P1 hỏi T1 “tao có bình bơm, mày có mua không, bình mới ăn trộm”, T1 nói “bán bao nhiêu tiền”, P1 nói “400.000 đồng/bình”. Tin biết bình bơm là do Siu P1 đi trộm cắp nhưng vẫn đồng ý mua. Sau đó, P1 về nhà lấy 01 (một) bình bơm đến nhà Tin, thấy bình bơm còn sử dụng được nên T1 đã mua với số tiền 400.000 đồng.
Vụ thứ ba: Vào khoảng 17 giờ một ngày trong tháng 08/2023 (không xác định được ngày cụ thể), Siu P1 rủ Đinh K đi đến khu vực đặt máy ép tinh dầu xả tại rẫy của chị Đinh Thị H4, thuộc thôn B, xã P, huyện I, để lấy trộm 01 (một) thùng phi bằng nhựa mà P1 đã thấy để ở rẫy của chị H4 trước đây, K đồng ý. Sau đó, P1 và K đi bộ từ nhà đến khu vực trên lấy trộm 01 (một) thùng phi rồi mang về nhà K cất giấu. Khoảng 04 (bốn) ngày sau, K mang thùng phi đến nhà bà Đinh T2 để bán. Bà T2 không biết thùng phi do trộm cắp mà có nên bà T2 đã mua lại với giá 100.000 đồng. Số tiền bán thùng phi có được thì K và P1 cùng nhau sử dụng hết. Giá trị thiệt hại theo kết luận định giá tài sản là 400.000 đồng.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 596/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, kết luận: 01 (một) xe rùa (màu cam có thân và khung làm bằng kim loại, chiều cao 60cm, dài 1,3m) có trị giá 250.000 đồng; 02 (hai) bình phun thuốc, nhãn hiệu “KS-1 GALAXY”, bằng nhựa, màu cam dung tích bình 18 lít, sử dụng ắc quy loại 12V 7.2AH, đã qua sử dụng, trị giá 2.200.000 đồng; 01 (một) bình phun thuốc nhãn hiệu “Bình bơm SIÊU TỐC ROBOT”, bằng nhựa, màu xanh lục, trị giá 650.000 đồng; 01 (một) bình phun thuốc nhãn hiệu “ROMAN RM-20BD”, bằng nhựa màu xanh dương đã qua sử dụng, trị giá 800.000 đồng; 01 (một) thùng phi bằng nhựa đã qua sử dụng, dạng hình trụ cao 93cm, đường kính hai đáy đều là 58cm trị giá 400.000 đồng; 01 (một) máy bơm, đã qua sử dụng, trên tay cầm có chữ “DAPHOVINA”, trị giá 1.200.000 đồng; 02 (hai) thùng phi bằng nhựa đã qua sử dụng, dạng hình trụ, có chiều cao 93cm, đường kính hai đáy đều là 58cm trị giá 800.000 đồng. Tổng cộng là 6.300.000đ (Sáu triệu ba trăm nghìn đồng).
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 657/KL-HĐĐGTS ngày 14/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, kết luận: 01 (một) dây điện màu đen, vỏ bằng nhựa dài 9,2m, đường kính 01cm, không rõ nhãn mác, trị giá 165.600đ (Một trăm sáu mươi lăm nghìn sáu trăm đồng).
Tại bản cáo trạng số: 07/CT – VKS ngày 02/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai truy tố các bị cáo Siu P1 và Đinh K, về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Các bị cáo Đinh D, Đinh B1, Đinh T1 và Đinh C1, về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai đề nghị:
Tuyên bố các bị cáo Siu P1, Đinh K phạm tội “Trộm cắp tài sản”; các bị cáo Đinh D, Đinh B1, Đinh T1 và Đinh C1 phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1, Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Đề nghị xử phạt:
Bị cáo Siu P1 từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù đến 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
Bị cáo Đinh K từ 01 (Một) đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Đề nghị xử phạt:
Bị cáo Đinh D từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án.
Bị cáo Đinh B1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án.
Bị cáo Đinh T1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án.
Bị cáo Đinh C1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án.
* Về vật chứng vụ án:
Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 (một) xe rùa (màu cam có thân và khung làm bằng kim loại, chiều cao 60cm, dài 1,3m); 02 (hai) bình phun thuốc, nhãn hiệu “KS-1 GALAXY”, bằng nhựa, màu cam dung tích bình 18 lít, sử dụng ắc quy loại 12V 7.2AH, đã qua sử dụng; 01 (một) bình phun thuốc nhãn hiệu “Bình bơm SIÊU TỐC ROBOT”, bằng nhựa, màu xanh lục; 01 (một) bình phun thuốc nhãn hiệu “ROMAN RM-20BD”, bằng nhừa màu xanh dương đã qua sử dụng; 01 (một) thùng phi bằng nhựa đã qua sử dụng, dạng hình trụ cao 93cm, đường kính hai đáy đều là 58cm; 01 (một) máy bơm, đã qua sử dụng, trên tay cầm có chữ “DAPHOVINA”; 02 (hai) thùng phi bằng nhựa đã qua sử dụng, dạng hình trụ, có chiều cao 93cm, đường kính hai đáy đều là 58cm và 01 (một) dây điện màu đen, vỏ bằng nhựa dài 9,2m, đường kính 01cm, chuôi cắm màu vàng bằng nhựa, không rõ nhãn mác. Quá trình điều tra xác định các tài sản trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Đinh Thị H4, xét thấy việc trả lại tài sản trên không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chị Đinh Thị H4 theo quy định của pháp luật là phù hợp nên không đề cập đến.
Đề nghị: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) cái kéo dài 23cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11cm, phần rộng nhất của lưỡi kéo là 03cm, mũi kéo nhọn, cán dài 13cm được làm bằng kim loại có lớp nhựa màu đỏ ở ngoài, phần rộng nhất của cán là 12cm, đã qua sử dụng do bị cáo Siu P1 giao nộp ngày 18/9/2023; 01 (một) dao rựa có chiều dài 59cm, lưỡi làm bằng kim loại dài 29cm, phần rộng nhất của lưỡi dài 04cm, mũi dao quắm; cán dao làm bằng kim loại và gỗ có tổng chiều dài là 30cm, cán bằng kim loại dài 08cm, cán làm bằng gỗ hình trụ tròn dài 22cm, đường kính 2,5cm, đã qua sử dụng; 01 (một) áo vải màu đỏ đen kích thước (1,5x0,93)m, thân áo in hình con Hổ, đã qua sử dụng; 01 (một) giỏ bằng nhựa màu đỏ kích thước (43x16x45)cm, trên giỏ có cột hai sợi dây vải màu đen có dòng chữ “M LIMITED”, đã qua sử dụng, do bị cáo Đinh K giao nộp ngày 18/9/2023.
* Về dân sự: Chị Đinh Thị H4 đã nhận lại các tài sản bị mất. Hiện tại chị H4 không yêu cầu bồi thường nên không đề cập đến.
Bà Lê Thị C2, bà Đinh A và bà Đinh T2 khi mua tài sản của Siu Phiơr không biết được tài sản do P1 trộm cắp được mà có, bà Lê Thị C2, bà Đinh A m, bà Đinh T2 tự nguyện cho, không yêu cầu các bị cáo trả lại tài sản hoặc bồi thường nên ghi nhận sự tự nguyện của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bà Lê Thị C2, bà Đinh A m, bà Đinh Tyơn .
* Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự đề nghị: Truy thu các bị cáo Siu P1, Đinh Krêu mổi bị cáo số tiền 850.000 đồng; Đinh B1 số tiền 500.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.
Ý kiến của các bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát về tội danh, điều, khoản, mức hình phạt và các tình tiết tăng nặng; giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Ý kiến của người bị hại: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị C2, bà Đinh A m, bà Đinh T2 tự nguyện cho, không yêu cầu các bị cáo trả lại tài sản hoặc bồi thường.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Từ tháng 6 năm 2023 đến ngày 15 tháng 9 năm 2023, bị cáo Siu P1 và Đinh K đã cùng nhau thực hiện 04 (bốn) lần trộm cắp tài sản của gia đình chị Đinh Thị H4, tại thôn B, xã P, huyện I, tỉnh Gia Lai, tổng giá trị thiệt hại là 6.465.600 đồng. Sau đó bán tài sản trộm cắp được cho Đinh D, Đ, Đ, Đinh Chônh .1 Lê Thị C2, Đinh A M1 và Đinh T2, thu lợi tổng số tiền là 2.090.000đồng. Riêng vụ trộm cắp 04 (bốn) bình bơm thuốc tổng giá trị thiệt hại là 3.650.000 đồng, các bị cáo Đinh D, Đinh B1, Đinh T1 và Đinh C1 mặc dù không hứa hẹn trước với bị cáo Siu P1 và Đinh K nhưng khi biết rõ tài sản là do trộm cắp mà có và bán giá rẻ nên các bị cáo Đinh D, Đinh B1, Đinh T1 và Đinh C1 đã mua về để sử dụng.
Như vậy hành vi của các bị cáo Siu P1, Đinh K đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự; các bị cáo Đinh D, Đinh B1, Đinh T1 và Đinh C1 đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo Siu P1, Đ, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của các bị cáo Đinh D, Đinh B1, Đinh T1 và Đinh C1 đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó gây ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng, cũng như tình hình trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy các bị cáo phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật đối với hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra.
Ở vụ án này mặc dù các bị cáo cố ý thực hiện một tội phạm. Song đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn trong đó tính chất, vai trò mức độ phạm tội của từng bị cáo như sau:
Đối với bị cáo Siu P1 có vai trò rủ rê, khởi xướng (03 vụ) và thực hành tích cực cùng với bị cáo Đinh K trộm cắp tài sản của gia đình chị Đinh Thị H4, gây thiệt hại số tiền 6.465.600 đồng.
Đối với bị cáo Đinh K có vai trò rủ rê, khởi xướng (01 vụ) và thực hành tích cực cùng với bị cáo Siu P1 trộm cắp tài sản của gia đình chị Đinh Thị H4, gây thiệt hại số tiền 6.465.600 đồng.
Đối với các bị cáo Đinh D, Đinh B1, Đinh T1 và Đinh C1 mặc dù không hứa hẹn trước với các bị cáo Siu P1 và Đinh K nhưng khi biết rõ tài sản là do trộm cắp mà có và bán giá rẻ nên các bị cáo Đinh D, Đinh B1, Đinh T1 và Đinh C1 đã mua về để sử dụng.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tất cả các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo Đinh D, Đinh B1, Đinh T1 và Đinh C1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Đây là những tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Siu P1 và Đinh K có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đó là: “Phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét các bị cáo Đinh D, Đinh B1, Đinh T1 và Đinh C1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, đã thể hiện sự ăn năn, hối cải của mình và để cho các bị cáo hưởng sự khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật hình sự là phù hợp.
[2] Về những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, tội danh, điều, khoản áp dụng và các tình tiết tăng nặng; giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, biện pháp tư pháp của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét thấy phù hợp với kết quả Nghị án của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3] Về ý kiến của các bị cáo: Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
[4] Về ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị C2, bà Đinh A và bà Đinh T2 khi mua tài sản của Siu Phiơr không biết được tài sản do P1 trộm cắp được mà có, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý bà C2, bà A và bà T2 là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến. Ghi nhận sự tự nguyện của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bà Lê Thị C2, bà Đinh A m, bà Đinh Tyơn T2 tự nguyện cho, không yêu cầu các bị cáo trả lại tài sản hoặc bồi thường.
[5] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện I, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện I, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Siu P1, Đinh K phạm tội “Trộm cắp tài sản”; các bị cáo Đinh D, Đinh B1, Đinh T1 và Đinh C1 phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt:
Bị cáo Siu Phiơr 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
Bị cáo Đinh K 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt:
Bị cáo Đinh B1 07 (Bảy) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án (06/6/2024).
Bị cáo Đinh D 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án (06/6/2024).
Bị cáo Đinh T1 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án (06/6/2024).
Bị cáo Đinh C1 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án (06/6/2024).
Giao các bị cáo Đinh B1, Đinh T1 và Đinh C1 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện I, tỉnh Gia Lai; bị cáo Đinh D cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai và gia đình bị cáo phối hợp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) cái kéo dài 23cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11cm, phần rộng nhất của lưỡi kéo là 03cm, mũi kéo nhọn, cán dài 13cm được làm bằng kim loại có lớp nhựa màu đỏ ở ngoài, phần rộng nhất của cán là 12cm, đã qua sử dụng do bị can Siu Phiơr giao nộp ngày 18/9/2023; 01 (một) dao rựa có chiều dài 59cm, lưỡi làm bằng kim loại dài 29cm, phần rộng nhất của lưỡi dài 04cm, mũi dao quắm; cán dao làm bằng kim loại và gỗ có tổng chiều dài là 30cm, cán bằng kim loại dài 08cm, cán làm bằng gỗ hình trụ tròn dài 22cm, đường kính 2,5cm, đã qua sử dụng; 01 (một) áo vải màu đỏ đen kích thước (1,5x0,93)m, thân áo in hình con Hổ, đã qua sử dụng; 01 (một) giỏ bằng nhựa màu đỏ kích thước (43x16x45)cm, trên giỏ có cột hai sợi dây vải màu đen có dòng chữ “M LIMITED”, đã qua sử dụng, do bị can Đinh K giao nộp ngày 18/9/2023. ( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/4/2024 giữa công an huyện I và chi cục thi hành án dân sự huyện Ia Pa).
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự:
Buộc các bị cáo Siu P1, Đinh K mỗi bị cáo phải nộp lại số tiền 850.000 đồng (T3 trăm năm mươi nghìn) đồng; bị cáo Đinh B1 phải nộp lại số tiền 500.000 đồng (Năm trăm năm nghìn) đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Siu P1, Đinh K, Đinh D, Đinh B1, Đinh T1 và Đinh C1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 ( Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 06/6/2024). Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Viết Thịnh |
Bản án số 07/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA PA, TỈNH GIA LAI về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Số bản án: 07/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA PA, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Siu Ph cùng động phạm “Trộm cắp tài sản”
