|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2024/HS-ST Ngày: 10-01-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Duy Hải.
Các hội thẩm nhân dân: bà Trần Thị Thu Hoài và ông Vũ Anh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Anh- Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 146/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Văn K (tên gọi khác: Bắc)- sinh ngày: 10/10/1972, tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: tổ F, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn Đ (đã chết) và bà: Trần Thị D (đã chết); vợ thứ nhất: Dương Thị V (đã ly hôn); vợ thứ hai: Vũ Thị D1; có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 11/8/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.
2. Họ và tên: Nguyễn Anh N - sinh ngày: 08/12/1999, tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: tổ A, phường Q, TP T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Xuân D2 và bà: Khiếu Thị Thủy C; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: ngày 18/3/2019, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 36 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong hình phạt tù về địa phương ngày 26/3/2021 và đã chấp hành xong các phần khác của Bản án ngày 17/5/2019.
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 05/8/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.
3. Họ và tên: Đào Việt L - sinh ngày: 01/5/1990, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ C, khu E, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đào Duy L1 (đã chết) và bà: Đào Thị H; có vợ là: Phạm Thu H1 và có 01 con; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: ngày 11/9/2015, UBND phường M, thành phố C xử phạt hành chính (phạt tiền) về hành vi “Cố ý gây thương tích”, đã nộp xong tiền phạt năm 2015.
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 05/8/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Bùi Hữu T, sinh năm 1991. Nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Bùi Thanh H2, sinh năm 1980, vắng mặt.
- Anh Vũ Đức T1, sinh năm 1990, vắng mặt.
- Anh Quách Văn H3, sinh năm 1986, vắng mặt.
- Anh Trần Thành D3, sinh năm 2007, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn K là chủ xe đồng thời là lái xe ô tô khách 35 chỗ nhãn hiệu SAMCO, biển kiểm soát (BKS): 14B - 002.91. Tháng 12/2022, K ký hợp đồng dịch vụ tham gia là thành viên với Hợp tác xã D4, địa chỉ tại phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Hợp tác xã D4 và Công ty TNHH V1, tỉnh Thái Bình (hãng xe T3), đều được Sở Giao thông Vận tải tỉnh Q và tỉnh Thái Bình cấp phép cho kinh doanh vận tải khách, tuyến cố định Quảng Ninh - Thái Bình và ngược lại. Quá trình đón trả khách, lái xe của 02 hãng xe trên thường xảy ra mâu thuẫn trong việc chạy cùng khung giờ, xe của hãng Thiên Hoàng H4 thường chạy vượt lên trước đón khách, gây ảnh hưởng đến việc đón khách của hãng xe H5.
Sáng ngày 19/7/2023, Trần Văn K điều khiển xe ô tô BKS 14B - 002.91 đi từ thành phố C, tỉnh Quảng Ninh đến tỉnh Thái Bình, trên xe có Nguyễn Anh N, Đào Việt L làm phụ xe và có con trai của K là cháu Trần Thành D3 (sinh năm 2007) đi chơi theo xe. Đến khoảng 06 giờ 55 phút cùng ngày, khi đến Km115+200, Quốc lộ A thuộc khu A, phường B, thành phố H thì xe khách 16 chỗ nhãn hiệu Hyundai Solati, BKS 17B - 021.23 của hãng xe Thiên Hoàng Hải, do anh Bùi Hữu T điều khiển chạy vượt lên trước để đón khách. Thấy vậy, K điều khiển xe ô tô BKS 14B - 002.91 đuổi theo vượt lên, chèn ép xe ô tô BKS 17B - 021.23 phải dừng lại, N và L nhảy xuống giật mở cửa bên lái xe ô tô BKS 17B - 021.23 chửi, đe dọa và dùng tay đánh vào người anh T, ép buộc anh T không được vượt trước đón khách. Sự việc diễn ra
khoảng một phút thì K xuống kéo N và L lên xe tiếp tục hành trình. Quá trình bị N và L đánh, anh T tránh được và dùng tay đỡ nên không bị thương tích.
Tại báo cáo sự việc của tổ dân khu phố A, phường B; các biên bản làm việc với đại diện Ủy ban nhân dân phường B, Trung tâm Truyền thông - Văn hóa thành phố H và ý kiến của Ủy ban nhân dân thành phố H, đều xác định: Vụ việc xe khách BKS 14B - 002.91 chèn ép, chặn và đánh lái xe khách BKS 17B - 021.23 vào sáng ngày 19/7/2023, tại Km 115+200, Quốc lộ A thuộc khu A, phường B, thành phố H đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Ngày 05/8/2023 và ngày 11/8/2023, lần lượt Nguyễn Anh N, Đào Việt L và Trần Văn K đến Cơ quan Công an xin đầu thú.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, các bị cáo: Trần Văn K, Nguyễn Anh N và Đào Việt L đã khai nhận hành vi chèn ép, chặn và đánh lái xe khách BKS 17B - 021.23 vào sáng ngày 19/7/2023, tại Km 115+200, Quốc lộ A thuộc khu A, phường B, thành phố H như nội dung vụ án đã nêu trên. Ngoài ra các bị cáo khai: quá trình chặn, chèn ép, dằn mặt lái xe của hãng Thiên Hoàng H4, các bị cáo không bàn bạc, chỉ đạo, rủ, thuê người, không ném chất bẩn và không dùng đá chèn bánh xe của hãng xe T3. Nhưng do đều bức xúc việc xe khách Thiên Hoàng H4 vượt lên đón khách trước, nên khi K điều khiển xe vượt lên chặn đầu, thì N và L đều hiểu ý xuống xe để dằn mặt lái xe Thiên Hoàng H4, yêu cầu chạy sau.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Bùi Hữu T vắng mặt tại phiên toà, nhưng tại cơ quan điều tra có lời khai phù hợp với lời khai của các bị cáo về nội dung vụ án. Anh T không bị thiệt hại nên không đề nghị các bị cáo phải bồi thường về dân sự.
Những người làm chứng: anh Bùi Thanh H2, anh Vũ Đức T1, anh Quách Văn H3 và anh Trần Thành D3 có lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về nội dung vụ án.
Tại Cáo trạng số 172/CT-VKSQN-P2 ngày 29/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố: Trần Văn K, Nguyễn Anh N và Đào Việt L, về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh kết luận các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Anh N và Đào Việt L phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng: khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Bị cáo K và bị cáo L áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt các bị cáo: Trần Văn K, Nguyễn Anh N và Đào Việt L, mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày các bị cáo bị tạm giữ.
- - Về vật chứng: đề nghị trả lại cho bị Trần Văn K 01 chiếc xe ô tô BKS: 14B - 002.91, kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô và giấy chứng nhận kiểm định xe.
Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến và không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng: các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, về các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về xác định tư cách người tham gia tố tụng: tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án xác định anh Bùi Văn T2 là bị hại trong vụ án, tuy nhiên tại phiên toà Hội đồng xét xử xét thấy anh T2 không bị thiệt hại do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra và không có yêu cầu bồi thường, mặt khác khách thể của tội: “Gây rối trật tự công cộng” là xâm phạm đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội ở nơi công cộng, do đó Hội đồng xét xử xác định lại tư cách tham gia tố tụng của anh T2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
[2] Về hành vi của các bị cáo thể hiện: tại phiên tòa các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Anh N và Đào Việt L khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 06 giờ 55 phút, ngày 19/7/2023 tại Km115+200, Quốc lộ A thuộc khu A, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Trần Văn K đã có hành vi điều khiển xe ô tô BKS 14B - 002.91 đuổi, chèn ép xe ô tô BKS 17B - 021.23 do anh Bùi Hữu T điều khiển phải dừng lại. Khi xe dừng, Nguyễn Anh N và Đào Việt L là phụ xe của K có hành vi xuống giật mở cửa bên lái xe ô tô BKS 17B - 021.23 chửi, đe dọa và dùng tay đánh nhiều nhát vào người anh Bùi Hữu T nhưng không gây thương tích, ép buộc anh T không được điều khiển xe vượt trước đón khách. Vụ việc đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
Hội đồng xét xử xét thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Anh N và Đào Việt L về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là chưa chính xác, bởi lẽ: căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ thì thấy trong vụ án này không có sự
câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, không có người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức, vụ án chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn. Do đó, chỉ đủ cơ sở kết luận hành vi nêu trên của các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Anh N và Đào Việt L phạm vào tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, tại phần trình bày luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh kết luận hành vi của các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Anh N và Đào Việt L phạm vào tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy việc đại diện Viện kiểm sát kết luận như vậy là đúng pháp luật nên được chấp nhận.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, tạo dư luận xấu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó cần tuyên cho các bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và đồng thời có tác dụng giáo dục răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân: bị cáo K có nhân thân tốt; bị cáo N và L có nhân thân xấu; các bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi phạm tội các bị cáo đã ra đầu thú; quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo K và bị cáo L phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên hai bị cáo này được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo K đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự và có bố đẻ là người có công với Nhà nước (thương binh 3/4), nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về vai trò và mức hình phạt: vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó Trần Văn K giữ vai trò đầu vụ, các bị cáo N và L giữ vai trò giúp sức.
Khi lượng hình, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, nhưng dù có xem xét giảm nhẹ hình phạt đến đâu thì việc cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết.
Bị cáo Khe giữ vai trò đầu vụ nhưng có nhân thân tốt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn bị cáo N và bị cáo L; các bị cáo N và L giữ vai trò giúp sức, nhưng có nhân thân xấu và ít tình tiết giảm nhẹ hơn bị cáo K, nên cần xử các bị cáo mức hình phạt ngang nhau là phù hợp quy định của pháp luật.
[6] Về xử lý vật chứng: quá trình điều tra thu giữ của bị cáo Trần Văn K 01 chiếc xe ô tô SAMCO, màu sơn trắng xanh, BKS: 14B- 002.91; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 14 012725 và 01 giấy chứng nhận kiểm định số EA 1723003. Xét
thấy chiếc xe ô tô trên là tài sản chung của gia đình bị cáo, là phương tiện kiếm sống duy nhất của gia đình bị cáo, mặt khác bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên không cần thiết tịch thu mà trả lại cho bị cáo.
[7] Về phần dân sự: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[8] Nội dung khác:
Đối với hành vi đe dọa và dùng tay đánh nhiều nhát vào người anh T, nhưng anh T tránh được và dùng tay đỡ nên không bị thương tích, anh T không yêu cầu bồi thường nên không đề cập xử lý.
Ngoài ra Trần Văn K, Nguyễn Anh N và Đào Việt L còn có hành vi chặn, chèn ép, dằn mặt một số lái xe của hãng T3 tại thành phố U, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; huyện V, thành phố Hải Phòng; các huyện Q và Đ, tỉnh Thái Bình nhưng do không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, nên không đề cập xử lý.
[9] Luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với nội dung của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên cơ bản được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về án phí và quyền kháng cáo: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Anh N và Đào Việt L phạm tội: "Gây rối trật tự công cộng".
- - Căn cứ: khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- + Xử phạt bị cáo Trần Văn K 05 (năm) tháng 15 (mười lăm) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/8/2023.
- + Xử phạt bị cáo Đào Việt L 05 (năm) tháng 15 (mười lăm) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2023.
- - Căn cứ: khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- + Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh N 05 (năm) tháng 15 (mười lăm) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2023.
- - Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo Trần Văn K: 01 chiếc xe ô tô SAMCO, màu sơn trắng xanh, BKS: 14B- 002.91, số khung RLEB1R75LB7100973, xe có 02 gương tại đầu xe, đèn xi nhan trước sau đầy đủ + 01 chìa khoá xe; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số
14 012725 của xe ô tô BKS: 14B-002.91 và giấy chứng nhận kiểm định số EA 1723003 của xe ô tô BKS: 14B-002.91.
(Tình trạng như Biên bản giao vật chứng số 24 ngày 29/11/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh và Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh).
- - Về án phí: áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Anh N và Đào Việt L, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Duy Hải |
7
Bản án số 07/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 07/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Khe cđp gây rối trật tự công cộng
