TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 07/2024/HS-PT Ngày 11 - 01 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Anh Cường
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Ông Nguyễn Xuân Trọng
Thư ký phiên toà: Bà Triệu Mỹ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà:
Bà Mầu Mai Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 135/2023/HS-PT ngày 18 tháng 10 năm 2023 do có kháng cáo của bị cáo Tô Văn T, Lưu Văn C và Đỗ Xuân Đ đối với bản án hình sự sơ thẩm số 151/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Bị cáo kháng cáo:
- Tô Văn T, sinh ngày 13/10/1995 ; tại thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; trú tại: Thôn C, thị trấn T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Sán dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Văn N và bà Nguyễn Thị T1 có vợ là Phùng Ngọc L và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (Có mặt).
- Lưu Văn C, sinh ngày 10/01/1996; tại thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; trú tại: Thôn Đ, xã N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Không ; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Sán dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn T2 và bà Dương Thị C1 có vợ là Triệu Thị H và 02 con: tiền án; tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (Có mặt).
- Đỗ Xuân Đ, sinh ngày 17/6/1997; tại thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn X, xã C, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn H1 và bà Đặng Thị M có vợ là Nguyễn Thị T3 và 01 con: tiền án; tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (Có mặt).
Trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, kháng nghị Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tô Văn T, Lưu Văn C và Đỗ Xuân Đ đều là công nhân làm việc tại xưởng sản xuất thuộc Công ty TNHH S1 – K, huyện B. Khoảng đầu tháng 9 năm 2022, T nghe thấy nhiều công nhân xưởng mạ kim loại nói chuyện với nhau về việc tại phòng mạ kim loại có bể đựng hóa chất là dung dịch hỗn hợp dạng nước có chứa hàm lượng vàng, nên T đã nảy sinh ý định đột nhập vào bên trong phòng mạ kim loại cạnh với X để tách chiết lấy vàng đem bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Sau đó, T rủ C và Đ cùng trộm cắp thì cả 2 đồng ý. Trong thời gian từ ngày 06/9/2022 đến ngày 17/9/2022, các bị cáo đã 08 lần trộm cắp tài sản. Cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Trong ca làm đêm từ 20 giờ ngày 05/9/2022 đến 08 giờ ngày 06/9/2022, T chuẩn bị 01 chai nhựa trà xanh 0 độ có thể tích 500 ml đúc vào túi quần vào xưởng sản xuất làm việc. Khoảng 02 giờ 40 phút, ngày 06/9/2022, quan sát tại xưởng vắng người, T và C đi đến vị trí đặt chiếc cây điều hòa trong xưởng, C đứng ở dưới quan sát, cảnh giới, còn T lén lút trèo lên nóc chiếc điều hòa cây cao khoảng 1,7 mét, dùng tay đẩy tấm trần hình vuông bằng nhựa có kích thước 50 cm x 50 cm sang một bên, rồi tiếp tục dùng 2 tay đu lên ống thông gió hình tròn bằng kim loại để lên, lên đến nơi T đi khom trên ống thông gió đi đến vị trí phòng mạ, cách xưởng sản xuất khoảng 02 mét. Đến nơi T lại dùng tay gạt tấm trần hình vuông có kích thước 50 cm x 50 cm sang một bên rồi thả 2 chân xuống để dẫm vào mặt đỉnh của máy mạ không sử dụng đến cao khoảng 1,8 mét và bước xuống phòng mạ (không có người làm việc), T đi đến 02 bể mạ bằng nhựa, thể tích mỗi bể là 07 lít dung dịch hỗn hợp màu vàng đục rồi sử dụng chiếc chai nhựa mang theo múc mỗi bể nửa chai nhựa (T múc đều hai bể vì sợ 1 bể vơi sẽ bị lộ); khi múc đầy chai, T đóng nắp chai lại cầm trên tay và theo lối đi trên trần để về xưởng sản xuất và tụt xuống vị trí C đang đứng cảnh giới, T đưa chai nhựa đựng hóa chất vừa trộm cắp được cho C cất giấu tại gầm máy sấy.
Lần thứ 2: Trong ca làm đêm từ 20 giờ ngày 06/9/2022 đến 08 giờ ngày 07/9/2022. Khoảng 03 giờ 50 phút ngày 07/9/2022, C cảnh giới, T trèo lên trần nhà đi đến phòng mạ trộm cắp 500ml hóa chất dung dịch hỗn hợp (đựng trong 01 chai nhựa, loại chai trà xanh 0 độ, thể tích 500ml), rồi quay về xưởng sản xuất đưa cho C cất giấu. Khoảng 08 giờ ngày 07/9/2022, T và C mỗi người mang theo 01 chai đựng đầy hóa chất bên trong ra ngã ba hồ Đ - P đưa cho Đ mang về nhà để tách chiết.
Lần thứ 3: Trong ca làm đêm từ 20 giờ ngày 07/9/2022 đến 08 giờ ngày 08/9/2022. Khoảng 01 giờ 50 phút ngày 08/9/2022, C cảnh giới, T trèo lên trần nhà đi đến phòng mạ và trộm cắp 500ml hóa chất dung dịch hỗn hợp (đựng trong 01 chai nhựa, loại chai trà xanh 0 độ, thể tích 500ml), rồi quay lại xưởng sản xuất đưa cho C cất giấu tại gầm máy sấy.
Lần thứ 4: Trong ca làm đêm từ 20 giờ ngày 08/9/2022 đến 08 giờ ngày 09/9/2022. Khoảng 22 giờ 50 phút ngày 08/9/2022, C cảnh giới, T trèo lên trần nhà đi đến phòng mạ và trộm cắp 500ml hóa chất dung dịch hỗn hợp (đựng trong 01 chai nhựa, loại chai trà xanh 0 độ, thể tích 500ml), rồi quay về xưởng sản xuất đưa cho C cất giấu. Khoảng 08 giờ ngày 09/9/2022, T và C mỗi người mang theo 01 chai đựng đầy hóa chất bên trong ra ngã ba hồ Đ - P đưa cho Đ mang về nhà để chiết tách.
Lần thứ 5: Trong ca làm đêm từ 20 giờ ngày 09/9/2022 đến 08 giờ ngày 10/9/2022. Khoảng 22 giờ ngày 09/9/2022, C cảnh giới, T trèo lên trần nhà đi đến phòng mạ và trộm cắp 500ml hóa chất dung dịch hỗn hợp (đựng trong 01 chai nhựa, loại chai trà xanh 0 độ, thể tích 500ml), rồi quay về xưởng sản xuất đưa cho C cất giấu tại gầm máy sấy.
Lần thứ 6: Trong ca làm đêm từ 20 giờ ngày 10/9/2022 đến 08 giờ ngày 11/9/2022. Khoảng 01 giờ 20 phút ngày 11/9/2022, C cảnh giới, T trèo lên trần nhà để đi đến phòng mạ và trộm cắp 500ml hóa chất dung dịch hỗn hợp (đựng trong 01 chai nhựa, loại chai trà xanh 0 độ, thể tích 500ml), rồi quay về xưởng sản xuất đưa cho C cất giấu tại gầm máy sấy. Khoảng 08 giờ ngày 11/9/2022, T và C mỗi người mang theo 01 chai đựng đầy hóa chất bên trong ra ngã ba hồ Đ - P đưa cho Đ mang về nhà để chiết tách.
Lần thứ 7: Trong ca làm đêm từ 20 giờ ngày 15/9/2022 đến 08 giờ ngày 16/9/2022. Khoảng 23 giờ 05 phút ngày 15/9/2022, C cảnh giới, T trèo lên trần nhà đi đến phòng mạ và trộm cắp 500ml hóa chất dung dịch hỗn hợp (đựng trong 01 chai nhựa, loại chai trà xanh 0 độ, thể tích 500ml), rồi quay về xưởng sản xuất đưa cho C cất giấu tại gầm máy sấy.
Lần thứ 8: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 17/9/2022, C cảnh giới, T trèo lên trần nhà đi đến phòng mạ và trộm cắp 500ml hóa chất dung dịch hỗn hợp (đựng trong 01 chai nhựa, loại chai trà xanh 0 độ, thể tích 500ml), rồi quay về xưởng sản xuất đưa cho C cất giấu tại gầm máy sấy. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, T gặp C và nói “Hình như bị lộ rồi hay sao ấy, còn 02 chai thì mày đổ bỏ đi” C đồng ý rồi đi đến gầm máy sấy lấy 02 chai nhựa bên trong đựng đầy hóa chất (trộm lần thứ 7 và lần thứ 8) mang ra khu vực cống thoát nước trong xưởng và đổ bỏ toàn bộ dung dịch bên trong 02 chai xuống cống và vứt bỏ 02 chiếc vỏ chai vào thùng rác.
Sau khi nhận được 03 lít dung dịch (04 chai dung dịch mà T, C đưa cho Đ vào buổi sáng ngày 09/9/2022 và buổi sáng ngày 11/9/2022), Đ mang về nhà ở thôn X, xã C, TP ., tỉnh Vĩnh Phúc, rồi một mình chiết tách, thu được 01 cục vàng có hình dạng giống viên sỏi nhỏ, chiều dài khoảng 01 đến 2,5 cm. Đông mang cục vàng trên đến cửa hàng V ở tổ A, phường Đ, TP . và gặp anh Phan Thiên S là chủ cửa hàng để đặt vấn đề bán cục vàng trên. Sau khi kiểm tra cục vàng trên qua các giai đoạn thì ông S xác định cục vàng trên là vàng ta (vàng 9999), có trọng lượng là 2,3 chỉ. Thời điểm này giá vàng mua vào là 5.300.000 đồng/ 01 chỉ nên ông S đã trả cho Đ số tiền 12.190.000 đồng. Số tiền trên, Đông chia cho C 1.000.000 đồng, số tiền còn lại Đông cất giữ, chưa chia cho T.
Quá trình điều tra xác định: Dung dịch hỗn hợp dạng nước là tài sản mà các bị can trộm cắp bên trong có 02 thành phần gồm: Kali vàng xyanua (Tiếng anh viết là “Potassium – G – Cyanide”) gọi tắt là PGC và hóa chất dung môi dạng lỏng nhãn hiệu AURO BASE AC – 1008. Dung dịch hỗn hợp gồm 02 chất trên sử dụng để mạ các chi tiết để cấu thành nên POGOPIN (đây là chi tiết để lắp vào các thiết bị điện tử). Mỗi ngày, sau khi kết thúc quy trình mạ các sản phẩm thì công nhân kỹ thuật phòng mạ sẽ bổ sung dung dịch AURO BASE AC 1008 và thành phần Kali vàng xyanua để đảm bảo việc mạ các sản phẩm cho ngày hôm sau. Tại thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp thì trong 04 lít dung dịch hỗn hợp trên có 29,4 gam vàng, theo đơn giá tháng 8 năm 2022 mà Công ty TNHH S1 mua của Công ty TNHH Y, chi nhánh V1 là 954.336 đồng/01 gam. Đối với dung môi AURO BASE AC 1008 thì Công ty TNHH S1 mua của Công ty S2 có địa chỉ tại Hàn Quốc giá 1.638.000 đồng/01 lít (Đơn giá nhập của tháng 9 năm 2021).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 10/KL–HĐĐGTS ngày 18/01/2023 kết luận: 29,4gam vàng xyanua có giá 28.057.000 đồng; 04 lít dung môi AURO BASE AC 1008 có giá 6.832.500 đồng, tổng trị giá tài sản là 34.889.500 đồng (Ba mươi tư triệu, tám trăm tám mươi chín nghìn năm trăm đồng).
Kết quả giám định kỹ thuật số điện tử:
Cơ quan điều tra đã thu giữ dữ liệu Camera an ninh tại khu vực xưởng sản xuất và phòng mạ tại Công ty TNHH S1 và trưng cầu giám định. Tại Kết luận giám định số 390 ngày 21/02/2023 của Phòng K - Công an tỉnh V, kết luận: Chụp được 66 ảnh và sao lưu 16 tệp video vào 01 đĩa DVD về diễn biến hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo.
Vật chứng thu giữ:
- Ngày 23/11/2022, Lưu Văn C đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 1.000.000 đồng là tiền C được Đ chia cho từ số tiền bán số vàng chiết tách được.
- Ngày 30/11/2022, Đỗ Xuân Đ tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 11.190.000 đồng là tiền Đ hưởng lợi từ việc bán số vàng chiết tách được và 01 chiếc bát thạch anh, đường kính miệng bát là 9,5cm, chiều cao thành bát là 04cm; 01 chiếc cốc thủy tinh có thể tích 250ml, đường kính miệng cốc là 7,5cm, chiều cao thành cốc là 10cm; 01 chiếc xô nhựa màu đỏ, quai bằng nhựa màu trắng, đường kính miệng xô là 28cm, chiều cao thành xô là 25cm và 30 gam kẽm lá màu xám. Đây là số công cụ mà Đỗ Xuân Đ đã sử dụng để tách chiết vàng bên trong dung dịch đã trộm cắp được.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 06/3/2023, các bị cáo Tô Văn T, Lưu Văn C, Đỗ Xuân Đ đã tự nguyện bồi thường tổng số tiền 22.699.500 đồng, trong đó mỗi bị cáo là 7.566.500 đồng. Chị M1 là người đại diện theo ủy quyền của Công ty đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu, đề nghị gì khác.
Với hành vi nêu trên tại bản án hình sự sơ thẩm số 151/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Tô Văn T, Lưu Văn C, Đỗ Xuân Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Tô Văn T 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lưu Văn C 01 năm 06 tháng tù . Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Đỗ Xuân Đ 01 năm 03 tháng tù . Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết địnhxử lý vật chứng, quyết định án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/9/2023 bị cáo Tô Văn T, Lưu Văn C, Đỗ Xuân Đ kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên toà các bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo xin được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc giữ quyền công tố tại phiên toà phúc thẩm phát biểu quan điểm, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tô Văn T, Lưu Văn C, Đỗ Xuân Đ, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên hình phạt nhưng cho các bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo Tô Văn T, Lưu Văn C, Đỗ Xuân Đ làm trong hạn luật định, hợp lệ được xem xét giải quyết.
[2] Về tố tụng: Cơ quan Điều tra viên và Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã không thu giữ mẫu vật chứng là hóa chất dung dịch hỗn hợp dạng nước có chứa hàm lượng vàng mà các bị cáo trộm cắp trong các ngày 06, 07, 08, 09, 11, 15 và 17/9/2022 trong một lít dung dịch có thành phần các chất gì, tỷ lệ như thế nào để định giá cho chính xác. Việc cơ quan điều tra không thu giữ lấy mẫu mà định giá dựa trên lời khai của các bị cáo, đại diện bị hại, hóa đơn mua hàng... để định giá trong 04 lít dung dịch hỗn hợp mà các bị cáo trộm cắp có 29,4 gam vàng và 04 lít dung môi AURO BASE AC 1008 là vi phạm quy định tại Điều 90 và khoản 5 Điều 206 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên không trả hồ sơ điều tra bổ sung để tiến hành giám định đối với số dung dịch này và định lượng từng lần trộm cắp của các bị cáo vì hiện tại không có mẫu thu để giám định và việc định giá thiệt hại trong vụ án này không ảnh hưởng đến việc định tội các bị cáo và có cơ sở để xác định các lần trộm cắp của các bị cáo đủ định lượng trên 2.000.000đ). Nhưng điều tra viên và kiểm sát viên cần nghiêm túc rút kinh nghiệm về việc thu thập chứng cứ, định giá tài sản trong vụ án này.
[3] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Tô Văn T, Lưu Văn C, Đỗ Xuân Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, có đủ căn cứ để xác định như sau: Tô Văn T, Lưu Văn C và Đỗ Xuân Đ đều là công nhân làm việc tại xưởng sản xuất thuộc Công ty TNHH S1 – K, huyện B. Khoảng đầu tháng 9 năm 2022, T đã nảy sinh ý định đột nhập vào bên trong phòng mạ kim loại cạnh với X để tách chiết lấy vàng đem bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Sau đó, T rủ C và Đ cùng trộm cắp. Trong thời gian từ ngày 06/9/2022 đến ngày 17/9/2022, các bị cáo đã 08 lần trộm cắp tài sản. Cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Khoảng 02 giờ 40 phút ngày 06/9/2022, quan sát tại xưởng vắng người, C cảnh giới và giúp T chui qua trần nhà đến 02 bể mạ bằng nhựa, thể tích mỗi bể là 07 lít dung dịch hỗn hợp màu vàng đục rồi sử dụng chiếc chai nhựa trà xanh 0 độ có thể tích 500 ml mang theo múc mỗi bể 1/2 chai nhựa. Sau khi lấy được T đưa chai nhựa đựng hóa chất vừa trộm cắp được cho C cất giấu tại gầm máy sấy.
- Lần thứ 2: Khoảng 03 giờ 50 phút ngày 07/9/2022, C cảnh giới, T trèo lên trần nhà đi đến phòng mạ trộm cắp 500ml hóa chất dung dịch hỗn hợp, rồi quay về xưởng sản xuất đưa cho C cất giấu. Khoảng 08h00 ngày 07/9/2022, T và C mỗi người mang theo 01 chai đựng đầy hóa chất bên trong ra ngã ba hồ Đ - P đưa cho Đ mang về nhà để tách chiết.
- Lần thứ 3: Khoảng 01 giờ 50 phút ngày 08/9/2022, C cảnh giới, T trèo lên trần nhà đi đến phòng mạ và trộm cắp 500ml hóa chất dung dịch hỗn hợp, rồi quay lại xưởng sản xuất đưa cho C cất giấu tại gầm máy sấy.
- Lần thứ 4: Khoảng 22 giờ 50 phút ngày 08/9/2022, C cảnh giới, T trèo lên trần nhà đi đến phòng mạ và trộm cắp 500ml hóa chất dung dịch hỗn hợp, rồi quay về xưởng sản xuất đưa cho C cất giấu. Khoảng 08h00 ngày 09/9/2022, T và C mỗi người mang theo 01 chai đựng đầy hóa chất bên trong ra ngã ba hồ Đ - P đưa cho Đ mang về nhà để chiết tách.
- Lần thứ 5: Khoảng 22 giờ 50 phút ngày 09/9/2022, C cảnh giới, T trèo lên trần nhà đi đến phòng mạ và trộm cắp 500ml hóa chất dung dịch hỗn hợp, rồi quay về xưởng sản xuất đưa cho C cất giấu tại gầm máy sấy.
- Lần thứ 6: Khoảng 01 giờ 20 phút ngày 11/9/2022, C cảnh giới, T trèo lên trần nhà đi đến phòng mạ và trộm cắp 500ml hóa chất dung dịch hỗn hợp, rồi quay về xưởng sản xuất đưa cho C cất giấu tại gầm máy sấy. Khoảng 08 giờ 00 ngày 11/9/2022, T và C mỗi người mang theo 01 chai đựng đầy hóa chất bên trong ra ngã ba hồ Đ - P đưa cho Đ mang về nhà để chiết tách.
- Lần thứ 7: Khoảng 23 giờ 05 phút ngày 15/9/2022, C cảnh giới, T trèo lên trần nhà đi đến phòng mạ và trộm cắp 500ml hóa chất dung dịch hỗn hợp, rồi quay về xưởng sản xuất đưa cho C cất giấu tại gầm máy sấy.
- Lần thứ 8: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 17/9/2022, C cảnh giới, T trèo lên trần nhà đi đến phòng mạ và trộm cắp 500ml hóa chất dung dịch hỗn hợp, rồi quay về xưởng sản xuất đưa cho C cất giấu tại gầm máy sấy. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, T gặp C và nói “Hình như bị lộ rồi hay sao ấy, còn 02 chai thì mày đổ bỏ đi” C đồng ý rồi đi đến gầm máy sấy lấy 02 chai nhựa bên trong đựng đầy hóa chất mang ra khu vực cống thoát nước trong xưởng và đổ bỏ toàn bộ dung dịch bên trong 02 chai xuống cống và vứt bỏ 02 chiếc vỏ chai vào thùng rác.
Sau khi nhận được 03 lít dung dịch Đ mang về nhà ở thôn X, xã C, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, chiết tách, thu được 01 cục vàng có hình dạng giống viên sỏi nhỏ. Đông mang cục vàng trên đến cửa hàng V ở tổ A, phường Đ, thành phố P bán 12.190.000 đồng. Số tiền trên, Đông chia cho C 1.000.000 đồng, số tiền còn lại Đông cất giữ, chưa chia cho T.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 10/KL–HĐĐGTS ngày 18/01/2023 kết luận: 29,4 gam vàng xyanua có giá 28.057.000 đồng; 04 lít dung môi AURO BASE AC 1008 có giá 6.832.500 đồng, tổng trị giá tài sản là 34.889.500 đồng (Ba mươi tư triệu, tám trăm tám mươi chín nghìn năm trăm đồng).
Với hành vi phạm tội nêu trên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Tô Văn T, Lưu Văn C, Đỗ Xuân Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 và xử phạt Tô Văn T 01 năm 09 tháng tù, xử phạt Lưu Văn C 01 năm 06 tháng tù, Đỗ Xuân Đ 01 năm 03 tháng tù là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét đơn kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Tô Văn T, Lưu Văn C, Đỗ Xuân Đ, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư của các doanh nghiệp vào khu công nghiệp. Do vậy, việc đưa các bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật là cần thiết để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Trong vụ án này bị cáo Tô Văn T là người khởi xướng, trực tiếp thực hiện tội phạm, phạm tội nhiều lần, trị giá tài sản trộm cắp 34.889.500đ. Đối với bị cáo Lưu Văn C, Đỗ Xuân Đ là những người bị rủ dê, lôi kéo, nhưng thực hiện tội phạm nhiều lần, trị giá tài sản trộm cắp tương đối lớn. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức hình phạt 01 năm 09 tháng tù đối với T; 01 năm 06 tháng tù đối với C và 01 năm 03 tháng tù đối với Đ là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.
Tuy nhiên cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là nghiêm khắc vì: Trước khi phạm tội các bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu bị xử lý trước pháp luật, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã khắc phục toàn bộ hậu quả, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, các bị cáo tuổi đời còn trẻ, nhận thức pháp luật còn hạn chế và có nơi cư trú ổn định. Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm Tô Văn T, Lưu Văn C có đơn trình bày điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương. Từ những nhận định trên, Hôi đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên hình phạt nhưng cho các bị cáo hưởng án treo để bị cáo có điều kiện tự cải tạo, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Kháng cáo của bị cáo Tô Văn T, Lưu Văn C, Đỗ Xuân Đ được Hội đồng xét xử chấp nhận nên các bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tô Văn T, Lưu Văn C, Đỗ Xuân Đ, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 151/2023/HSST ngày 31/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Tô Văn T 01 năm 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thử thách 03 năm 06 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Lưu Văn C 01 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thử thách 03 năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Đỗ Xuân Đ 01 năm 03 tháng tù, cho hưởng án treo, thử thách 02 năm 06 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Tô Văn T cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Lưu Văn C cho Ủy ban nhân dân xã N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Đỗ Xuân Đ cho Ủy ban nhân dân xã C, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo Tô Văn T, Lưu Văn C, Đỗ Xuân Đ không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Đỗ Anh Cường |
Bản án số 07/2024/HS-PT ngày 11/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về trộm cắp tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 07/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tô Văn T trộm cắp tài sản
