Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 07/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27/3/2025

V/v Ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Lệ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thế Nam
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Hải – Thư ký Tòa án thành phố Long Khánh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Bình – Kiểm sát viên.

Vào ngày 27/3/2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 660/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12/3/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Ngọc N, sinh năm 1984.
  2. Bị đơn: Ông Phan Thanh N1, sinh năm 1977.

Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp D, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

(Bà N và ông N1 vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 20/11/2024, các lời khai bổ sung nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc N trình bày: bà kết hôn với ông Phan Thanh N1 vào năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, đây là hôn nhân lần đầu của cả hai. Ông bà có 03 con chung là Phan Huỳnh Tuyết V sinh ngày 30/8/2004, Phan Tuyết N2 sinh ngày 13/8/2011 và Phan Tuấn K sinh ngày 17/5/2019.

Sau khi kết hôn ông bà chung sống tạm ổn nhưng sau khi ông N1 làm ăn thất bại và có quan hệ tình cảm với người khác thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, sau này ông N1 còn nghi ngờ bà có quan hệ tình cảm với người khác nên mâu thuẫn càng trầm trọng hơn, vợ chồng thường hay gây gỗ, tranh cãi gay gắt, cuộc sống chung luôn căng thẳng không còn hạnh phúc. Sự việc kéo dài đến khoảng tháng 9/2024 thì bà N không thể chịu đựng được nữa nên dẫn cháu K về nhà mẹ ruột sống và nay xin ly hôn với ông N1.

Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi 02 con chung là Tuyết N2 và Tuấn K, không yêu cầu ông N1 cấp dưỡng nuôi con. Bà N không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung, ông bà không có nợ chung nên không yêu cầu Toà án xem xét.

Chứng cứ: tự khai, căn cước công dân, giấy đăng ký kết hôn, khai sinh, đơn đề nghị không hòa giải, đối thoại, đơn xin vắng mặt, đơn đề nghị không hoà giải.

Tại bản tự khai ngày 11/12/2024, các lời khai bổ sung bị đơn ông Phan Thanh N1 trình bày: Ông thông nhất với lời trình bày của bà N về việc đăng ký kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung.

Về mâu thuẫn vợ chồng ông cho rằng sau khi kết hôn ông và bà N chung sống bình thường, năm 2019 do thất bại trong việc làm ăn nên ông chán nản, gặp gỡ bạn bè tâm sự và phát sinh tình cảm với người khác nhưng khoảng vài tháng là châm dứt. Sau đó thì vợ chồng chung sống bình thường cho đến khoảng 01 tháng trước thì bà N thay đổi tính tình, hay đi chơi, buôn bán về khuya, ông kiểm tra thì biết bà N có quan hệ tình cảm với người khác, từ đó vợ chồng tranh cãi gay gắt với nhau, có lúc quá nóng giận ông hăm doạ chứ chưa dùng bạo lực với bà N. Ngoài ra, ông bà còn không thống nhất trong việc làm ăn, định hướng nghề nghiệp nên hay mâu thuẫn nhau. Hiện bà N đã dẫn cháu K về nhà mẹ ruột sống và xin ly hôn nnhưng ông không đồng ý vì muốn suy nghĩ cho các con có cuộc sống gia đình đầy đủ cha mẹ.

Nếu Toà án chấp nhận cho bà N ly hôn thì ông đồng ý giao 02 cháu Tuyết N2 và Tuấn K cho bà N nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con. Ông N1 không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung, ông bà không có nợ chung nên không yêu cầu Toà án xem xét.

Chứng cứ: tự khai.

- Các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Không có.

- Ý kiến của kiểm sát viên:

+ Về việc tuân theo pháp luật của Tòa án và đương sự trong việc giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đều thực hiện đúng theo quy định của BLTTDS.

Những người tham gia tố tụng cũng chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS, bà N có đơn xin vắng mặt, ông N1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Tòa án nên xét xử vắng mặt ông bà là đúng quy định.

+ Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N. Giao 02 con chung là cháu Tuyết N2 và cháu Tuấn K cho bà N nuôi dưỡng, cháu Tuyết V đã đủ 18 tuổi nên không xem xét, tạm thời ông N1 không cấp dưỡng nuôi con. Ông bà không yêu cầu Toà án giải quyết tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét. Bà N chịu án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: bà Huỳnh Ngọc N có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Phan Thanh N1 nên bà N là nguyên đơn, ông N1 là bị đơn trong vụ án. Do bà N có đơn xin vắng mặt, ông N1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Tòa án căn cứ điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông bà.

[2] Về quan hệ hôn nhân: bà Huỳnh Ngọc N và ông Phan Thanh N1 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Mặc dù ông N1 không đồng ý ly hôn nhưng qua lời trình bày của ông bà thì thấy cuộc sống chung của ông bà không có hạnh phúc, luôn nghi ngờ nhau về vấn đề tình cảm. Ngoài ra ông bà còn mâu thuẫn về việc làm ăn, định hướng công việc, nghề nghiệp, thu nhập để chăm lo cho gia đình. Từ đó ông bà thường xuyên gây gỗ, tranh cãi và không tìm được hướng hoà giải, héo dài đến tháng 11/2024 thì bà N nộp đơn ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án cũng đã kiên trì hoà giải nhưng không thành, bà N vẫn kiên quyết ly hôn. Từ đó cho thấy giữa ông bà không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn thật sự trầm trọng nên chấp nhận cho bà N ly hôn với ông N1.

[3] Về con chung: Bà N yêu cầu được nuôi cháu hai cháu Phan Tuyết N2 sinh ngày 13/8/2011 và Phan Tuấn K sinh ngày 17/5/2019, yêu cầu của bà phù hợp với nguyện vọng của cháu N2, đảm bảo cho việc phát triển của cháu K nên chấp nhận. Do bà N không yêu cầu nên tạm thời ông N1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Đối với cháu Phan Huỳnh Tuyết V sinh ngày 30/8/2004, hiện đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

[5] Về nợ chung: Đương sự khai không có nên không xem xét.

[6] Về án phí: bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố L phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 28, 35, 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận cho bà Huỳnh Ngọc N ly hôn ông Phan Thanh N1.
  • - Về con chung: giao hai cháu Phan Tuyết N2 sinh ngày 13/8/2011 và Phan Tuấn K sinh ngày 17/5/2019 cho bà Huỳnh Ngọc N trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời ông Phan Thanh N1 không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
  • Đối với cháu Phan Huỳnh Tuyết V sinh ngày 30/8/2004, hiện đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không xem xét.
  • Ông Phan Thanh N1 được quyền qua lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Khi cần thiết, ông N1 và bà N được quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con, việc cấp dưỡng và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
  • - Về tài sản chung: Bà Huỳnh Ngọc N và ông Phan Thanh N1 không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
  • - Về nợ chung: Đương sự khai không có nên không xem xét.
  • - Về án phí: Bà Huỳnh Ngọc N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà N nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh theo biên lai thu số 0005977 ngày 20/11/2024 thành tiền án phí, bà N đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Long Khánh;
  • - Lưu án văn;
  • - Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Mỹ Lệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn

  • Số bản án: 07/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà Huỳnh Thị Nhung ly hôn với ông Phan Thanh Nhã
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger