TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 14-5-2024
“V/v: Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vy Đức Hạnh
- Bà Đặng Xuân Phương
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Ngọc Lâm, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Vương Hải Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024 về việc “ ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2024/QĐ-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: chị Phạm Thị N, sinh năm 1982
- Bị đơn: anh Lê Văn T, sinh năm 1985
Nơi đăng ký thường trú: tổ B, khu H, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh
Nơi ở hiện tại: số 237 đường Trần Hưng Đạo, khu 4, phường Hải Yên, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
Địa chỉ: tổ B, khu H, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh
Đều vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Phạm Thị N trình bày: chị và anh Lê Văn T tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2010, đăng ký kết hôn cùng năm tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố M trên cơ sở tự nguyện, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên vợ chồng thường xuyên cãi vã. Mặt khác vợ chồng chị N không có con chung chị N muốn chạy chữa nhưng anh T không muốn do bất đồng về vấn đề kinh tế để chữa bệnh, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi vã và đánh mắng nhau. Đến năm 2022 do mâu thuẫn quá nhiều nên chị N đã chuyển ra nơi khác để sinh sống, chị và anh T cũng ly thân kể từ đó cho đến nay không còn quan tâm đến nhau. Chị N nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nay đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh T.
Về con chung: không có
Về tài sản chung và khoảng nợ chung: không có
Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp gồm các giấy tờ liên quan đến nhân thân của các đương sự, giấy xác nhận tình trạng vợ chồng.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành triệu tập anh T đến Tòa án để lấy lời khai, để tham gia phiên họp, hòa giải nhưng anh T vắng mặt không có lý do, không gửi ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của chị N, và cũng không cung cấp chứng cứ, tài liệu gì
Quá trình xác minh tại địa phương thể hiện: chị N và anh T có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân cụ thể địa phương không nắm được, chỉ biết sau đó chị N bỏ đi nơi khác sinh sống không thấy về lại địa phương. Chị N và anh T không có con chung
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, những người tiến hành tố tụng, nguyên đơn tuân thủ đúng quy định của pháp luật, bị đơn không tuân thủ việc triệu tập vi phạm khoản 16 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Quan điểm về việc giải quyết vụ án: căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử cho chị N được ly hôn với anh T.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: chị Phạm Thị N và anh Lê Văn T là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, chị N có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn thuộc trường hợp tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn có nơi cư trú tại thành phố M, nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự, nguyên đơn vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập đến lần thứ hai vẫn vắng mặt không có đơn xin xét xử vắng mặt, không có người đại diện, theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:
[3.1] Về tình cảm: căn cứ lời khai của đương sự, các tài liệu có trong hồ sơ Hội đồng xét xử thấy: cuộc hôn nhân của chị N và anh T được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và đăng ký theo quy định của pháp luật, do vậy cuộc hôn nhân của chị N và anh T là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ nghi ngờ chồng ngoại tình cũng từ đó giữa hai vợ chồng thường xảy ra cãi vã do mất lòng tin trong nhau mặt khác do vợ chống bất đồng về việc chữa bệnh để có con chung nên mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng, hơn nữa khi mâu thuẫn trầm trọng vợ chồng chọn phương án ly thân nhau, nhưng trong thời gian ly thân không còn sự quan tâm lẫn nhau, bản thân anh T trong quá trình Tòa án giải quyết, có triệu tập anh T lên để hòa giải về tình cảm nhưng anh T cũng không đến Tòa án để thể hiện việc bản thân không mong muốn hòa giải, đoàn tụ gia đình. Như vậy Hội đồng xét xử thấy cuộc hôn nhân của chị N và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nữa, nên chấp nhận yêu cầu về việc ly hôn của chị N đối với anh T
[3.2] Về con chung: không có nên không xét
[4] Về tài sản chung và khoản nợ chung: không có nên không xét.
[5] Về án phí: chị N chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị N về việc ly hôn
Xử: cho chị Phạm Thị N được ly hôn anh Lê Văn T.
Áp dụng: khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Khoản 5 Điều 19 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Nguyên đơn chị Phạm Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003066 ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái.
Áp dụng: Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Nga |
Bản án số 07/2024/HNGĐ - ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 07/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: Phạm Thị Nhâm BĐ: Lê Văn Thành Tranh chấp ly hôn
