|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11/01/2024 V/v “Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Bình và ông Lê Huỳnh Sinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Y - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 06/2020/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2020 về việc “Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Ú, sinh năm: 1981 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố C, phường Đ, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Phan Thị Phương T, sinh năm 1992 (Theo hợp đồng uỷ quyền ngày 16/6/2023) (có mặt).
Nơi cư trú: Khu phố A, phường P, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận.
Bị đơn: Ông Ngô Văn H, sinh năm 1975 (có mặt).
Nơi cư trú: Khu phố C, phường Đ, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/12/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Hồ Thị Ú và đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Phan Thị Phương T trình bày:
Bà Hồ Thị Ú và ông Ngô Văn H kết hôn ngày 11/9/2000 tại Ủy ban nhân dân xã T, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận. Ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 121/2019/QĐST-HNGĐ ngày 13/6/2019 của Toà án nhân dân TP. Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận.
Tại thời điểm ly hôn bà Ú và ông H không yêu cầu phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Sau khi ly hôn bà Ú và ông H không thoả thuận được vấn đề phân chia tài sản chung nên bà Ú khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như sau:
- - 01 thửa đất số 204, tờ bản đồ số 1, diện tích 243,5m² tọa lạc tại khu phố C, phường Đ, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận; Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 247709 do Ủy ban nhân dân thành phố P – T cấp cho ông Nguyễn Ngọc D ngày 21/10/2014, được cập nhật biến động cho ông Ngô Văn H và bà Hồ Thị Ú ngày 02/12/2015, hiện nay ông H đang quản lý và sử dụng.
- - 01 căn nhà cấp 4, diện tích 125m², tọa lạc tại địa chỉ: B, khu phố C, phường Đ, TP . - T, Ninh Thuận. Bà Ú và ông H nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn V bằng giấy tay. Hiện nay, ông H lưu giữ giấy tay đó. Bà Ú không có trích lục bản đồ thửa đất của Ủy ban nhân dân phường Đ, đề nghị Tòa án thu thập. Hiện tại ông H đang ở cùng với các con tại căn nhà này.
- - 01 thửa đất số 58, tờ bản đồ số 04, diện tích 260m², tọa lạc tại: khu phố C, phường Đ, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 015712 do Ủy ban nhân dân thành phố P – T cấp cho ông Ngô Văn H và bà Hồ Thị Ú ngày 26/8/2013, hiện nay bà Ú đang quản lý và sử dụng.
- - 01 căn nhà cấp 4, diện tích 95m², tọa lạc tại: H L, khu phố C, phường Đ, TP . - T, Ninh Thuận. Nhận chuyển nhượng của bà Dư Thị Thu L, bằng giấy tay có tên bà Ú và ông H. Hiện nay, ông H đang lưu giữ giấy tờ chuyển nhượng.
- - 01 xe ô tô 7 chỗ hiệu CAPTIVA, biển số 85A-01139, sản xuất năm 2008, giá trị: 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng), mua xe cũ của ông Lê Quốc P. Địa chỉ ông P: khu phố B, phường M, TP . - T, Ninh Thuận.
- - 01 xe tải ben hiệu FORLANO nhỏ, biển số 85C-0035, trị giá 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Mua ở Salon Đ, đường T, TP ., T, tỉnh Ninh Thuận.
- - 10 chiếc máy đào mua máy cũ loại mini, hiệu MITSUBISHI 5 trị giá : 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Giấy mua bán làm chung ông H đang giữ và quản lý.
- - Số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) gửi tiết kiệm tại ngân hàng N2 – Chi nhánh N3, có số tài khoản và thẻ khách hàng mang tên ông H.
- Số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) Công ty N4, khu phố A, phường T, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận có thế chấp cho bà Ú và ông H 01 xe tải ben hiệu THACO (6 tấn), biển số 85C-00439 sản xuất năm 2011, 01 Giấy đăng ký xe, 01 bảo hiểm xe, 01 giấy tay trong giấy tay bà N Đặng Quỳnh N1 đại diện cho Công ty N4.
- Số tiền 19.000.000đồng (Mười chín triệu đồng). Ông Lê Văn Ý, sinh năm 1994, có cầm sổ đất cho bà Ú. Hiện nay, ông H đang giữ số đất của ông Ý.
- - Số tiền 60.000.000đồng (Sáu mươi triệu đồng). Ông Huỳnh Minh T1, sinh 1992, có mượn của bà Ú. Hiện nay, ông T1 còn nợ bà Ú có viết giấy tay có tên bà Ú.
Tổng số tài sản chung: 1.189.000.000 đồng (Một tỷ một trăm tám mươi chín triệu đồng)
Ngày 09/6/2023, nguyên đơn bà Hồ Thị Ú xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, bà Hồ Thị Ú yêu cầu Toà án giải quyết chia 02 thửa đất ông H, bà Ú đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
- Thửa đất số 204, tờ bản đồ số 1, diện tích 243,5m², tọa lạc tại khu phố C, phường Đ, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận.
- Thửa dất số 58, tờ bản đồ số 04, diện tích 260,0m², tọa lạc tại khu phố C, phường Đ, TP .- T, Ninh Thuận.
Những nội dung khởi kiện khác bà Hồ Thị Ú xin được rút lại yêu cầu khởi. Nguyên đơn có nguyện vọng được nhận thửa đất số 58, tờ bản đồ số 04 mà nguyên đơn đang trực tiếp quản lý và sử dụng, phần giá trị chênh lệch nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải thanh toán lại. Chi phí đo đạc, định giá nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí, không yêu cầu bị đơn phải hoàn lại.
* Bị đơn ông Ngô Văn H trình bày:
Ông H và bà Hồ Thị Ú đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 121/2019/QĐST-HNGĐ ngày 13/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.
Về tài sản chung:
- - Thửa đất số 204, tờ bản đồ số 1, diện tích 243,5m², toạ lạc tại khu phố C, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 21/10/2014.
- - Thửa đất số 58, tờ bản đồ số 04, diện tích 260,0m², toạ lạc tại khu phố C, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 26/8/2013.
02 thửa đất trên là tài sản chung của ông H và bà Ú. Ông H không đồng ý chia vì ông muốn để lại cho các con của ông và bà Ú. Ông H không có yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện ông không có ý kiến gì.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị Ú.
Chia cho bà Hồ Thị Ú được quyền hưởng tài sản là quyền sử dụng thửa đất số 58, tờ bản đồ số 04, diện tích 260,0m², tọa lạc tại: khu phố C, phường Đ, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận và tài sản gắn liền với đất.
Chia cho ông Ngô Văn H được quyền hưởng tài sản là quyền sử dụng thửa đất số 204, tờ bản đồ số 1, diện tích 243,5m² tọa lạc tại khu phố C, phường Đ, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận và tài sản gắn liền với đất.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử đối với những yêu cầu mà nguyên đơn bà Hồ Thị Ú đã rút yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bất động sản tranh chấp toạ lạc phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận theo khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Đối với yêu cầu chia tài sản chung:
- Quá trình giải quyết vụ án bà Hồ Thị Ú và ông Ngô Văn H đều thừa nhận thửa đất số 204, tờ bản đồ số 1, diện tích 243,5m², toạ lạc tại khu phố C, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận và thửa đất số 58, tờ bản đồ số 04, diện tích 260,0m², toạ lạc tại khu phố C, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận và tài sản gắn liền với 02 thửa đất là tài sản chung của vợ chồng ông H, bà Ú tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, chưa được phân chia. Hai thửa đất này đã đã được Ủy ban nhân dân thành phố P - T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Ngô Văn H và bà Hồ Thị Ú. Hội đồng xét xử xét thấy, đây là những tình tiết, sự kiện được các đương sự thống nhất thừa nhận nên không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Do vậy, việc bà Hồ Thị Ú khởi kiện yêu cầu Toà án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
Theo biên bản định giá ngày 16/4/2021, của Hội đồng định giá tài sản thửa đất số 58, tờ bản đồ số 04, diện tích 260m², toạ lạc tại khu phố C, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận có giá trị như sau:
- - Diện tích 260,0m² loại đất trồng cây hằng năm khác; Đơn giá 110.000 đồng/m2, có giá trị: (110.000 đồng/m² x 1,1 x 260m²) = 31.460.000 đồng.
- - 02 bức tường xây gạch, không tô trát xi măng, kích thước [(4,0m + 8,0m) x 3,0m] = 36m²; Tỷ lệ còn lại 30%; Đơn giá 356.000 đồng/m²; Có giá trị: 36m² x 356.000 đồng x 30% = 3.844.800 đồng; Nền xi măng kích thước (4,0m x 8,0m) = 32m²; Tỷ lệ còn lại 30%; trị giá 1.699.200 đồng; 01 cây si trị giá 207.500 đồng; 01 cây ngũ gia bì trị giá: 55.000 đồng; 01 cây đu đủ trị giá: 140.000 đồng; 01 cây nem trị giá 207.500 đồng.
Tổng giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là: 37.614.000 đồng.
Theo biên bản định giá ngày 16/4/2021, của Hội đồng định giá tài sản thửa đất số 204, tờ bản đồ số 1, diện tích 243,5m² toạ lạc tại khu phố C, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận có giá trị như sau:
- - Diện tích 243,5m² loại đất trồng cây lâu năm; Đơn giá 120.000 đồng/m²; Có giá trị: 120.000 đồng x 1,1 x 243,5m² = 32.142.000 đồng.
- - Nhà cấp 4, cao 01 tầng, mái lớp tôn, nền gạch hoa, cửa sắt kính, diện tích xây dựng (6,0m x 3,2m)= 19,2m²; Tỷ lệ còn lại 70% trị giá 33.600.000 đồng; Mái che tôn khung sắt, trụ sắt kích thước (3,2m x 4,2m)+ (12,3m x 8,7m) = 120,01m²; Tỷ lệ còn lại 75% có giá trị 66.695.500 đồng; Mái che tôn khung gỗ, trụ gỗ tạp, kích thước (4,0 x 8,0) = 32m²; Tỷ lệ còn lại 40% có giá trị 3.468.800 đồng; T2 xây kích thước (6,7m x 1,5m) + (18,5m x 1,5m) = 38m²; Tỷ lệ còn lại 65% có giá trị 13.585.000 đồng; Cửa cổng sắt, kích thước (7,0m x 2,2m) = 15,4m²; Tỷ lệ còn lại 65% trị giá 6.206.200 đồng; 02 Trụ cổng, kích thước (0,6m x 0,6m x 3m) x 2 = 2m³; Tỷ lệ còn lại 65%; trị giá 3.203.200 đồng; 01 cây xoài Ø 15 thu hoạch trị giá 572.000 đồng; 01 cây mít chưa thu hoạch; trị giá 298.000 đồng; 01 cây mãng cầu thu hoạch trị giá 223.500 đồng.
Tổng giá trị quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản gắn liền với đất là: 159.994.200 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà các bên đương sự không có ý kiến gì đối với kết quả định giá tài sản, không có yêu cầu định giá bổ sung hay định giá lại nên Hội đồng xét xử lấy kết quả định giá này làm căn cứ để giải quyết tranh chấp là phù hợp pháp luật.
Nguyên đơn bà Hồ Thị Ú đang trực tiếp quản lý và sử dụng thửa đất số 58 và tài sản gắn liền với đất, bà Ú cũng có nguyện vọng được nhận thửa đất này nên Hội đồng xét xử giao thửa đất số 58, tờ bản đồ số 04, diện tích 260,0m², toạ lạc tại khu phố C, phường Đ, thành phố P - T cho bà Ú là phù hợp.
Bị đơn ông Ngô Văn H đang trực tiếp quản lý và sử dụng thửa đất số 204 nên Hội đồng xét xử giao thửa đất số 204, tờ bản đồ số 1, diện tích 243,5m², toạ lạc tại khu phố C, phường Đ, thành phố P - T và tài sản gắn liền với đất cho ông Ngô Văn H là phù hợp.
Giá trị đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa 204 ông Ngô Văn H được chia có giá trị lớn hơn thửa số 58 bà Hồ Thị Ú được chia. Tuy nhiên, bà Hồ Thị Ú không yêu cầu ông Ngô Văn H phải thanh toán phần giá trị chênh lệch nên Hội đồng xét xử không xét.
[2.2] Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn xin rút lại yêu cầu phân chia các tài sản sau:
- - 01 căn nhà cấp 4, diện tích 125m², tọa lạc tại địa chỉ: B, khu phố C, phường Đ, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận (chưa được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất).
- - 01 căn nhà cấp 4 diện tích 95m², tọa lạc tại: H L, khu phố C, phường Đ, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận (chưa được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất).
- - 01 xe ô tô 7 chỗ hiệu CAPTIVA, biển số 85A-01139, sản xuất năm 2008; 01 xe tải ben hiệu FORLANO nhỏ, biển số 85C-0035; 10 chiếc máy đào mua máy cũ loại mini, hiệu MITSUBISHI 5 xanh, 5 vàng.
- - Số tiền 429.000.000 đồng (200.000.000 đồng +150.000.000 đồng + 19.000.000 đồng + 60.000.000 đồng).
Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ xét xử đối với yêu cầu mà nguyên đơn đã rút. Nguyên đơn có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[3] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với những nhận định nêu trên nên được chấp nhận.
[4] Về chi phí đo đạc, định giá tài sản: Bà Hồ Thị Ú tự nguyện chịu toàn bộ chi phí đo đạc, định giá. Bà Hồ Thị Ú đã nộp đủ chi phí đo đạc, định giá.
[5] Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn và bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị phần tài sản được chia.
Bà Hồ Thị Ú phải chịu 1.880.700 đồng, cách tính (37.614.000 đồng x 5%) án phí dân sự sơ thẩm. Ông Ngô Văn H phải chịu 7.999.000 đồng, cách tính (159.994.200 đồng x 5%) án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 147, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào các Điều 33, Điều 59 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Căn cứ vào các Điều 213, 219 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị Ú.
Chia cho bà Hồ Thị Ú được hưởng tài sản gồm: Quyền sử dụng thửa đất số 58, tờ bản đồ số 04, diện tích 260,0m², tọa lạc tại: khu phố C, phường Đ, TP . - T, Ninh Thuận và được quyền sở hữu các tài sản gắn liền với đất, gồm: 02 bức tường xây gạch, không tô trát xi măng, kích thước [(4,0m + 8,0m) x 3,0m] = 36m²; Nền xi măng kích thước (4,0 x 8,0) = 32m²; 01 cây Si; 01 cây Ngũ Gia Bì; 01 cây Đu đủ; 01 cây nem. (Kèm theo trích lục số 4389/VPĐKĐĐNT-CNPRTC ngày 09/11/2021 của Văn phòng Đ chi nhánh P1 - T).
Chia cho ông Ngô Văn H được hưởng tài sản gồm: Quyền sử dụng thửa đất số 204, tờ bản đồ số 1-d, diện tích 243,5m² tọa lạc tại khu phố C, phường Đ, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận và được quyền sở hữu các tài sản gắn liền với đất, gồm: Nhà cấp 4, cao 01 tầng, mái lớp tôn, nền gạch hoa, cửa sắt kính, diện tích xây dựng (6,0m x 3,2m)= 19,2m²; Mái che tôn khung sắt, trụ sắt kích thước (3,2m x 4,2m)+ (12,3m x 8,7m) = 120,01m²; Mái che tôn khung gỗ, trụ gỗ tạp, kích thước (4,0 x 8,0) = 32m²; Tường xây kích thước (6,7m x 1,5m) + (18,5m x 1,5m) = 38m²; Cửa cổng sắt, kích thước (7,0m x 2,2m) = 15,4m²; 02 Trụ cổng, kích thước (0,6m x 0,6m x 3m) x 2 = 2m³; 01 cây xoài thu hoạch; 01 cây mít chưa thu hoạch; 01 cây mãng cầu thu hoạch. (Kèm theo trích lục số 4388/VPĐKĐĐNT-CNPRTC ngày 09/11/2021 của Văn phòng Đ chi nhánh P1 - T).
Bà Hồ Thị Ú và ông Ngô Văn H có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về đất đai để làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Hồ Thị Ú về việc yêu cầu Toà án chia tài sản chung, gồm:
- - 01 căn nhà cấp 4, diện tích 125m², tọa lạc tại địa chỉ: B, khu phố C, phường Đ, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận.
- - 01 căn nhà cấp 4 diện tích 95m², tọa lạc tại: H L, khu phố C, phường Đ, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận.
- - 01 xe ô tô 7 chỗ hiệu CAPTIVA, biển số 85A-01139, sản xuất năm 2008; 01 xe tải ben hiệu FORLANO nhỏ, biển số 85C-0035;
- - 10 chiếc máy đào mua máy cũ loại mini, hiệu MITSUBISHI.
- - Số tiền 429.000.000 đồng (200.000.000 đồng +150.000.000 đồng + 19.000.000 đồng + 60.000.000 đồng).
Bà Hồ Thị Ú có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Về chi phí đo đạc, định giá: Bà Hồ Thị Ú tự nguyện chịu toàn bộ chi phí đo đạc, định giá. Bà Hồ Thị Ú đã nộp đủ.
3. Về án phí: Bà Hồ Thị Ú phải chịu 1.880.700 đồng (Một triệu tám trăm tám mươi tám nghìn bảy trăm đồng) án phí nhưng được khấu trừ vào số tiền 14.862.500 đồng (Mười bốn triệu tám trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm đồng đồng) tạm ứng án phí bà Hồ Thị Ú đã nộp theo biên lai thu tiền số 0020600 ngày 27/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận. H1 lại cho bà Hồ Thị Ú 12.981.800 đồng (Mười hai triệu chín trăm tám mươi mốt nghìn tám trăm đồng) tiền chênh lệch.
Ông Ngô Văn H phải chịu 7.999.000 đồng (Bảy triệu chín trăm chín mươi chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 11/01/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Hùng |
Bản án số 07/2024/HNGĐ-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn
- Số bản án: 07/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Bùi Thị U tran h chấp chia tài sản chung sau ly hôn với ông Ngô Văn H
