|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10-01-2024
"V/v Tranh chấp Ly hôn"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Trường.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Võ Thị Mỹ Ngọc.
Ông Nguyễn Văn Cường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà My, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Dương Cẩm Hào, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 363/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết H, sinh năm 1981; địa chỉ: Số B, Đường H tháng 3, Khóm D, Phường E, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (Có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 04/01/2024).
- Bị đơn: Ông Phạm Văn L, sinh năm 1972; địa chỉ: Số A, Đường H tháng 3, Khóm D, Phường E, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 23/10/2023 và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết H trình bày như sau:
Về hôn nhân: Bà H và ông L tự tìm hiểu được 01 năm thì đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 20/02/2002 tại Ủy ban nhân dân Phường E, thị xã V, tỉnh Vĩnh Long (nay là thành phố V, tỉnh Vĩnh Long). Trong quá trình chung sống, ông bà sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn do ông L hay ghen và đuổi bà H về nhà cha mẹ ruột sinh sống cho đến nay. Hiện nay ông bà đã sống ly thân được 04 đến 05 năm, trong khoảng thời gian sống ly thân vợ chồng không quan tâm thăm hỏi và chăm sóc nhau. Nay bà H yêu cầu ly hôn vì xác định không còn tình cảm với ông L.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông bà có 02 con chung tên Phạm Thị Tuyết V, sinh ngày 14/5/2003 và Phạm Hoàng K, sinh ngày 06/01/2008, hiện nay đang sống với bà H. Khi ly hôn bà H yêu cầu nuôi cháu K, không yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi cháu K; riêng Tuyết V đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bà H có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 04/01/2024 và giữ nguyên các ý kiến đã trình bày.
- Bị đơn ông Phạm Văn L nhận được Thông báo thụ lý vụ án nhưng không có văn bản trả lời, không tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Tại phiên tòa, ông L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long phát biểu ý kiến:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đều tuân theo đúng quy định pháp luật tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật của người tham gia tố tụng, tuy nhiên bị đơn chưa thực hiện đúng quy định pháp luật của người tham gia tố tụng, thời hạn đưa vụ án ra xét xử đúng quy định.
Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị:
Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147 và Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H. Cho bà H được ly hôn với ông L.
Về con chung: Giao cháu Phạm Hoàng K, sinh ngày 06/01/2008 cho bà H nuôi dưỡng, ông L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Riêng cháu Phạm Thị Tuyết V, sinh ngày 14/5/2003 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Buộc bà H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, bị đơn cư trú tại thành phố V được thụ lý phù hợp về thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 04/01/2023, ông L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà H, ông L là phù hợp theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về hôn nhân: Bà H và ông L tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 20/02/2002 tại Ủy ban nhân dân Phường E, thị xã V, tỉnh Vĩnh Long (nay là thành phố V, tỉnh Vĩnh Long) nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, ông bà sống hạnh phúc được một khoảng thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Bà H xác định nguyên nhân mâu thuẫn do ông L hay ghen mặc dù bà có giải thích nhiều lần nhưng không được nên ông L đã đuổi bà H về nhà cha mẹ ruột sinh sống vì vậy bà H yêu cầu ly hôn vì không còn tình cảm với ông L.
Xét thấy bà H và ông L có một khoảng thời gian sống ly thân. Trong khoảng thời gian này, bà H xác định ông bà không còn quan tâm, chăm sóc và thăm hỏi nhau. Ngoài ra trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo cho ông L tham gia hòa giải nhiều lần để các bên tháo gỡ những mâu thuẫn nhưng ông L không tham dự và cũng không trình bày ý kiến phản bác đối với yêu cầu xin ly hôn của bà H do đó có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H là phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[3.2] Về con chung: Bà H xác định ông bà có 02 con chung tên Phạm Thị Tuyết V, sinh ngày 14/5/2003 và Phạm Hoàng K, sinh ngày 06/01/2008. Bà H yêu cầu nuôi cháu K, không yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi cháu K, riêng Tuyết V đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét điều kiện nuôi con: Xét thấy, từ khi ông bà sống ly thân thì cháu K do bà H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến nay; ông L đã được Tòa án thông báo đối với yêu cầu nuôi con của bà H nhưng không có ý kiến đối với yêu cầu này. Do đó, để đảm bảo về chỗ ở ổn định, học tập, vui chơi, để đảm bảo sự phát triển về tâm sinh lý và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu K vì vậy chấp nhận yêu cầu của bà H là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Riêng Tuyết V đã trưởng thành, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Xét về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà H không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi cháu K, ông L không có ý kiến và cũng không tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu K nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Xét quan điểm trình bày của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long là có cơ sở chấp nhận.
[5] Về án phí: Buộc bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ông L không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 147 và điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Tuyết H. Cho bà Nguyễn Thị Tuyết H được ly hôn với ông Phạm Văn L.
- Về con chung: Giao cháu Phạm Hoàng K, sinh ngày 06/01/2008 cho bà H nuôi dưỡng và giáo dục, ông L không phải cấp dưỡng nuôi cháu K. Riêng Phạm Thị Tuyết V, sinh ngày 14/5/2003 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Buộc Nguyễn Thị Tuyết H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà H được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí nộp ngày 03/11/2023 theo biên lai thu số No 0000143 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long thành tiền án phí. Bà H đã nộp đủ.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Minh Trường |
Bản án số 07/2024/HNGĐ-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 07/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Tuyết H xin ly hôn với ông Phạm Văn L
