TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2024/HNGĐ-PT Ngày: 27-03-2024 V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quyến
Các Thẩm phán:
- Ông Phạm Hoàng Dũng
- Bà Trần Thị Thanh Giang
- Thư ký phiên tòa: Bà Thị Hoàng Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 03 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2024/TLPT-HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 83/2023/HNGĐ-ST ngày 15/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 30/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 17 tháng 03 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích S, sinh năm: 1987
Địa chỉ: Số F, tổ D, khu vực T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. Đề nghị xét xử vắng mặt
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Tô Thị Mộng V – Đoàn luật sư thành phố C. Có mặt
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng T, sinh năm: 1982
Địa chỉ: Số F, tổ D, khu vực T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. Có mặt
- Người kháng cáo: bị đơn Nguyễn Hồng T
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích S trình bày và yêu cầu:
Bà và ông Nguyễn Hồng T tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn vào ngày 01/9/2008 tại Ủy ban nhân dân phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và sinh được 02 người con chung tên Nguyễn Hồng Bích T1 và Nguyễn Hồng T2 nhưng về sau thường phát sinh mâu thuẫn, quan điểm cuộc sống gia đình và các vấn đề khác không đồng thuận dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vả. Mặc dù, đã nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng không thành, tình trạng hôn nhân không được cải thiện, mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà với ông Nguyễn Hồng T đã sống ly thân từ tháng 10/2018 cho đến nay. Nay bà Nguyễn Thị Bích S khởi kiện và yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hồng T; Về con chung: Có 02 người con chung, giao cháu Nguyễn Hồng Bích T1, sinh ngày: 22/6/2009 và cháu Nguyễn Hồng T2, sinh ngày: 24/10/2015 cho ông Nguyễn Hồng T nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Bà Nguyễn Thị Bích S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/cháu/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi; Về tài sản chung, nợ chung: Không có. Không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Hồng T trong quá trình tố tụng trình bày và yêu cầu như sau:
Quá trình chung sống, vợ chồng có với nhau 02 người con chung tên Nguyễn Hồng Bích T1 và Nguyễn Hồng T2. Nay bà Nguyễn Thị Bích S có đơn khởi kiện xin ly hôn, ông có ý kiến như sau: Vào 05 năm trước (năm 2018) bà Nguyễn Thị Bích S đã nộp đơn khởi kiện xin ly hôn nhưng đã rút đơn khởi kiện và đi khỏi nhà giao con cho ông chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến nay. Hiện tại bà Nguyễn Thị Bích S tiếp tục khởi kiện xin ly hôn thì ông đồng ý ly hôn và nuôi con trong trường hợp bà Nguyễn Thị Bích S cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/cháu/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi nhưng phải cấp dưỡng ngay và cấp dưỡng 01 lần; thời gian cấp dưỡng nuôi con được tính từ khoảng tháng 10/2018; Về tài sản chung và nợ chung: thống nhất với ý kiến của bà Nguyễn Thị Bích S, không yêu cầu giải quyết
Tại bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 83/2023/HNGĐ-ST ngày 15/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy đã quyết định:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích S. Cho bà Nguyễn Thị Bích S được ly hôn với ông Nguyễn Hồng T.
Về con chung: Có 02 người con chung. Giao con chung tên Nguyễn Hồng Bích T1, sinh ngày 22/6/2009 và Nguyễn Hồng T2, sinh ngày 24/10/2015 cho ông Nguyễn Hồng T chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; bà Nguyễn Thị Bích S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/cháu/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/12/2023, ông T kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu bà S phải trả lại cho ông tiền nuôi con từ tháng 10/2018 do bà S bỏ đi từ tháng 10/2018.
Tại phiên tòa hôm nay:
- - Nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì khác.
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn cho rằng bà S thu nhập không ổn định, không có điều kiện cấp dưỡng nuôi con như yêu cầu của ông T nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông T.
- - Ông T cho rằng bà S có quan hệ với người khác, bỏ đi khỏi nhà từ tháng 8/2018, cho nên ông bắt buộc phải trực tiếp nuôi 02 con chung, hiện nay ông cũng khó khăn nên đề nghị bà S trả lại số tiền mà ông T bỏ ra để cấp dưỡng nuôi 02 con từ tháng 10/2018 đến tháng 11/2023 và tiếp tục cấp dưỡng từ tháng 12/2023.
- - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn nộp đơn kháng cáo trong thời gian luật định nên xem xét hợp lệ về mặt hình thức.
Về kháng cáo của bị đơn thấy rằng: ông T kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới, bà S thì thu nhập không ổn định. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: bị đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “tranh chấp ly hôn, nuôi con” và giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bà S vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà S.
[2] Xét kháng cáo của ông T về việc yêu cầu bà S trả lại số tiền mà ông T bỏ ra để cấp dưỡng nuôi 02 con từ tháng 10/2018 (ngày bà S bỏ đi) đến tháng 11/2023 (ngày ông T yêu cầu cấp dưỡng) là 61 tháng.
Thấy rằng: quá trình giải quyết vụ án, bản tự khai của bà S đều thống nhất khi vợ chồng ly thân (tháng 10/2018) cho đến nay 02 con chung là Nguyễn Hồng Bích T1, sinh ngày 22/6/2009 và Nguyễn Hồng T2, sinh ngày 24/10/2015 do ông T trực tiếp nuôi dưỡng; bà S cho rằng từ khi ly thân đến nay bà phải làm thuê, thu nhập hằng tháng chỉ từ 5.000.000₫ đến 6.000.000đ, bà có thăm con, có gửi tiền cấp dưỡng nuôi con nhưng ông T không nhận.
Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Án lệ số 62/2023/AL thì nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con chưa thành niên được phát sinh từ khi người con được sinh ra. Việc cấp dưỡng nuôi con là quyền và là nghĩa vụ của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con. Cháu Nguyễn Hồng Bích T1, sinh ngày 22/6/2009 và Nguyễn Hồng T2, sinh ngày 24/10/2015 là con chung của bà S và ông T, nhưng từ khi bà S đi khỏi nhà cho đến tháng 11/2023 do một mình ông T trực tiếp nuôi dưỡng và chi trả các khoản tiền nuôi con. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu buộc bà S hoàn trả lại số tiền chi phí mà ông T bỏ ra để nuôi 02 cháu từ tháng 10/2018 (ngày bà S bỏ đi) cho đến tháng 11/2023 là không phù hợp làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T. Do đó cần chấp nhận kháng cáo của ông T, buộc bà S phải hoàn trả lại cho ông T số tiền cấp dưỡng nuôi 02 con là: 61 tháng x 1.500.000đ/02 cháu/tháng = 91.500.000₫ (thời điểm này thu nhập của bà S không cao nên tính cấp dưỡng 02 con mỗi tháng 1.500.000₫).
[3] Đối với việc ông T yêu cầu bà S tiếp tục cấp dưỡng nuôi con, mỗi tháng 1.000.000đ/cháu, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 12/2023 cho đến khi mỗi cháu tròn 18 tuổi, bà S đồng ý và là sự tự nguyện của các đương sự, nghĩ nên chấp nhận.
[4] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực thi hành, bao gồm: Về quan hệ hôn nhân, quan hệ tài sản, án phí sơ thẩm ly hôn.
[5] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của ông T được chấp nhận nên ông T không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Án lệ số 62/2023/AL;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Hồng T. Sửa một phần Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 83/2023/HNGĐ-ST ngày 15/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy.
Tuyên xử:
1. Về nuôi con chung:
- Giao cháu Nguyễn Hồng Bích T1, sinh ngày 22/6/2009 và cháu Nguyễn Hồng T2, sinh ngày 24/10/2015 cho ông Nguyễn Hồng T chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.
- Buộc bà Nguyễn Thị Bích S phải hoàn tiền cấp dưỡng nuôi 02 con chung cho ông Nguyễn Hồng T từ tháng 10/2018 đến tháng 11/2023 là 91.500.000₫.
- Bà Nguyễn Thị Bích S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/cháu/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Thời gian bắt đầu tính cấp dưỡng tính từ tháng 12/2023.
- Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con hoặc người nuôi con.
2. Về án phí phúc thẩm: ông Nguyễn Hồng T không phải chịu nên được nhận lại 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002408 ngày 21/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thủy.
3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực thi hành, bao gồm: Về quan hệ hôn nhân, quan hệ tài sản, án phí sơ thẩm ly hôn.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quyến |
Bản án số 07/2024/HNGĐ-PT ngày 27/03/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 07/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Th kháng cáo yêu cầu cấp dưỡng nuôi con
