TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2024/HNGĐ-PT Ngày: 19 - 4 - 2024 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Văn Hùng
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Châu Thạch
Bà Lê Thị Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Quang Huy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2024/TLPT-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn”.
Do Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 100/2023/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt bị kháng cáo.
Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-DS ngày 01/12/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 23/2024/QĐ-PT ngày 22/02/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Nguyễn Đình V, sinh năm 1990
Địa chỉ: Số A Đ, phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Bà Trần Mai Q, sinh năm 1990
Địa chỉ: Số E H, phường F, thành phố Đ, Lâm Đồng.
Người kháng cáo: Bà Trần Mai Q – Bị đơn
(Ông V có mặt; bà Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn ông Phạm Nguyễn Đình V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Trần Mai Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu, tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường F, thành phố Đ vào năm 2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống và không có tiếng nói chung, dẫn đến tình cảm vợ chồng không hạnh phúc. Hai bên nhiều lần hàn gắn tình cảm, gia đình đôi bên cũng đã dành nhiều thời gian để hòa giải nhưng không được. Nay ông nhận thấy tình trạng hôn nhân ở mức mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn đối với bà Q để hai bên giải thoát cho nhau, tự xây dựng cuộc sống riêng.
Bị đơn bà Trần Mai Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà thừa nhận về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như ông V trình bày là đúng. Sau khi kết hôn với ông V thì ông V thường công tác xa nhà, do đặc thù công việc nên môi năm công tác một tỉnh, thành khác nhau do công ty P sắp xếp và bố trí. Còn bà thì sống chung với bố mẹ ông V tại thành phố Đ. Trong thời gian công tác xa nhà, một vài tháng ông V mới về nhà một lần, trong quan hệ tình cảm vợ chồng giữa bà và ông V không có mâu thuẫn gì lớn, ông V là một người chồng chu đáo, hiếu thảo và có tránh nhiệm với 02 bên gia đình nội ngoại cùng các con. Do bà còn yêu thương ông V, hơn nữa con chung hiện nay còn nhỏ nên bà mong muốn đoàn tụ, không muốn ly hôn nên đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông V.
Về con chung: ông V và bà Q cùng xác nhận vợ chồng có 03 người con chung bao gồm: Cháu Phạm Ngọc Bảo A, sinh ngày 08-5-2016; cháu Phạm Nhật Khải A1, sinh ngày: 17-7-2018 và cháu Phạm Nhật Phi A2, sinh ngày: 26-01-2022.
Khi ly hôn ông Phạm Nguyễn Đình V đề nghị giao 03 con chung cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng, ông có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi mỗi con 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Về vấn đề này, bà Trần Mai Q trình bày, giả sử trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn thì bà đề nghị được nuôi cả 03 con chung và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận. Về nợ chung: Không có.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành
Tại bản án số 100/2023/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt đã xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Nguyễn Đình V về việc “Ly hôn”. Giải quyết cho ông Phạm Nguyễn Đình V được ly hôn với bà Trần Mai Q.
Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Ngọc Bảo A, sinh ngày 08-5-2016; cháu Phạm Nhật Khải A1, sinh ngày: 17-7-2018 và cháu Phạm Nhật Phi A2, sinh ngày: 26-01-20222 cho bà Trần Mai Q trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Phạm Nguyễn Đình V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi con 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày 01-11-2023.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 27/11/20123 bị đơn bà Trần Mai Q kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-DS ngày 01/12/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt. Nội dung kháng nghị: Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Nguyễn Đình V.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn trình bày ý kiến không đồng ý với kháng cáo của bị đơn và nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nội dung đơn vẫn giữ nguyên kháng cáo. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng nêu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Ông V là người có lỗi trong quan hệ hôn nhân vì đã có quan hệ tình cảm với người khác. Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm vẫn chấp nhận yêu cầu của ông V và giải quyết cho ông V ly hôn với bà Q là không có căn cứ và lý do không chính đáng. Để bảo vệ quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTDS, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến trình bày của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Toà án cấp sơ thẩm thực hiện và tuân thủ đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự trong việc xác định thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp “Tranh chấp ly hôn”, xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập và giao nộp chứng cứ, hoà giải, trình tự thủ tục phiên toà sơ thẩm, đơn kháng cáo của bị đơn và quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt trong hạn luật định, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bà Trần Mai Q và Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Giữa ông V và bà Q đăng ký kết hôn vào năm 2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc tuy nhiên sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Theo lời trình bày của ông V cho rằng nguyên nhân là do vợ chồng không có sự chia sẻ, quan tâm lẫn nhau trong làm ăn kinh tế, còn theo bà Q cho rằng cuộc sống hôn nhân giữa bà và ông V không có mâu thuẫn gì lớn, bà vẫn còn yêu thương ông V, bên cạnh đó các con chung còn nhỏ nên bà mong muốn vợ chồng đoàn tụ để ông V có thêm thời gian suy nghĩ thấu đáo mọi việc.
Tuy nhiên, qua xem xét toàn bộ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được các đương sự thừa nhận thì hiện tại tình trạng hôn giữa ông V, bà Q đã sống ly thân mỗi người một nơi, mạnh ai nấy sống, không có sự quan tâm, chia sẻ gì lẫn nhau, không còn chủ động hàn gắn tình cảm với nhau. Bà Q cho rằng ông V có mối quan hệ ngoại tình với người khác, đồng thời cung cấp hình ảnh chứng minh. Tại phiên toà, ông V cho rằng ông không còn tình cảm với bà Q, ông có quen biết những người khác phụ nữ khác nhưng chỉ là mối quan hệ bạn bình thường, không phải ngoại tình. Bà Q kháng cáo không đồng ý ly hôn nhưng cũng không đưa ra được biện pháp nào khác để hàn gắn tình cảm. Do đó, đủ cơ sở khẳng định mối quan hệ hôn nhân giữa ông V và bà Q đã ở mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, có níu kéo giữa các bên cũng không còn hạnh phúc nên mục đích hôn nhân không thể hàn gắn. Toà án cấp sơ thẩm đã căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông V, giải quyết cho ông V được ly hôn với bà Q để hai bên tự xây dựng cuộc sống riêng của bản thân là đúng pháp luật.
[3] Đối với nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt: Như đã phân tích tình trạng hôn nhân của các đương sự, việc tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân giữa các bên nếu có cũng không hạnh phúc mà chỉ làm cho mâu thuẫn trầm trọng hơn. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-DS ngày 01/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt.
[4] Về con chung: Cả ông V và bà Q đều thừa nhận vợ chồng có 03 con chung bao gồm: Cháu Phạm Ngọc Bảo A, sinh ngày 08/5/2016; cháu Phạm Nhật Khải A1, sinh ngày: 17/7/2018 và cháu Phạm Nhật Phi A2, sinh ngày: 26/01/2022. Hiện các con đều sống chung với bà Q và do bà Q chăm sóc, nuôi dưỡng; cháu Phạm Ngọc Bảo A hiện đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng được ở với mẹ. Xét về điều kiện hoàn cảnh, ông V thường xuyên đi làm xa nhà trong khi các con chung đều cư trú, học tập ổn định ở địa phương. Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho con về mọi mặt, bảo đảm sự ổn định và giảm thiểu sự xáo trộn đối với môi trường sống, giáo dục của các con thì cần giao cả 03 con chung cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Mặc dù bà Q không yêu cầu ông V cấp dưỡng, nhưng xét nhu cầu thực tế và thiết yếu của các con, cần ghi nhận việc ông V đồng ý cấp dưỡng nuôi mỗi con 5.000.000 đồng/ tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi như cấp sơ thẩm quyết định là phù hợp.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Các bên tự thoả thuận nên Hội đồng xét xử không đề cập.
Từ những phân tích trên, cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng về tình trạng hôn nhân của các đương sự. Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo bị đơn bà Trần Mai Q và Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-DS ngày 01/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt.
[6] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 308, điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Trần Mai Q.
Không chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-DS ngày 01/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt.
Giữ nguyên Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 100/2023/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Nguyễn Đình V về việc “Ly hôn”. Giải quyết cho ông Phạm Nguyễn Đình V được ly hôn với bà Trần Mai Q.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Ngọc Bảo A, sinh ngày 08/5/2016; cháu Phạm Nhật Khải A1, sinh ngày: 17/7/2018 và cháu Phạm Nhật Phi A2, sinh ngày: 26/01/2022 cho bà Trần Mai Q trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Phạm Nguyễn Đình V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi con 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày 01/11/2023.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con được thực hiện theo quy định Luật hôn nhân và gia đình.
- Về án phí: Ông Phạm Nguyễn Đình V phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0011977 ngày 03/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt. Ông Phạm Nguyễn Đình V phải nộp tiếp 300.000 đồng án phí còn thiếu.
Bà Trần Mai Q phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000125 ngày 07/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trịnh Văn Hùng |
Bản án số 07/2024/HNGĐ-PT ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 07/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Nguyễn Đình Vinh xin ly hôn Trần Mai Quyên
