Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 19/4/2024

V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HOÀ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Võ Thị Trầm

Các thẩm phán

Bà Lê Thúy Phượng

Ông Võ Đình Phương

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cao Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hồng Nam – Kiểm sát viên

Ngày 15 và ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 04/2024/TLPT-HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2024 về: “Tranh chấp về chia tài sản chung sau ly hôn”.

Do có kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng H đối với Bản án số 115/2023/HNGĐ-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXXPT-HNGĐ ngày 13/03/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/QĐ-PT ngày 28/3/2024 giữa:

- Nguyên đơn: Ông Đỗ Anh T, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn P, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Lê Thị Xuân H1, sinh năm 1983; địa chỉ: thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn P, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Lê Văn T1- Luật sư Văn phòng L; địa chỉ: A N, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Ngô Thị M, sinh năm 1957; nơi cư trú: Thôn P, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt

- Bà Đỗ Thị Thùy D, sinh năm: 1977; nơi cư trú: Thôn P, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

- Ông Nguyễn Tiến D1, sinh năm: 1967; nơi cư trú: Thôn P, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị H2; sinh năm: 1966; nơi cư trú: Thôn P, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Bà Trương Thị Thu T2, sinh năm: 1963; nơi cư trú: Quốc lộ B, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Bà Lê Thị Xuân H1, sinh năm: 1983; nơi cư trú: Thôn P, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh K – Phòng G1; địa chỉ: Số F đường B tháng 4, tổ dân phố D, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Người có kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cử và hòa giải, tại phiên tòa nguyên đơn ông Đỗ Anh T trình bày:

Ông T và bà H là vợ chồng nhưng do mâu thuẫn vợ chồng phát sinh nên vợ chồng ly hôn theo Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 302/2017/QSST-HNGĐ của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa vào ngày 23 tháng 8 năm 2017. Trong quá trình chung sống, ông và bà H đã tạo lập tài sản chung là Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 106, tờ bản đồ số 112, bản đồ địa chính xã N với diện tích 912,6m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy số CH06638 ngày 20 tháng 4 năm 2016, cũng theo Quyết định thuận tình ly hôn đã ghi: “Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Hồng H và ông Đỗ Anh T không yêu cầu giải quyết”. Bởi vì, trước khi ly hôn, ông và bà H đã tự nguyện thỏa thuận và lập Biên Bản Thỏa Thuận bằng giấy tay vào ngày 16 tháng 8 năm 2017 ghi nội dung như sau:

“ - Số nợ mà vợ chồng tôi nợ của chị gái tôi là bà Đỗ Thị Thùy D là 2 chỉ vàng 96% và mẹ tôi là bà Ngô Thị M là 01 chỉ vàng 96%. Số nợ này là do tôi trả. Và các khoản nợ Huệ T3.

- Chiếc xe máy hiệu Airblack biển kiểm soát 79H1 – 09199 do vợ tôi nắm giữ. Phà đất và khoản nợ vay ngân hàng 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu) thì tôi sẽ trả và nhà đất thuộc về tôi và vợ tôi không liên quan gì nữa.

- Số tiền mà mẹ vợ tôi và bố vợ là: ông Nguyễn Tiến D1 và Nguyễn Thị H2 có nhờ tôi vay ngân hàng thì hàng tháng vẫn phải trả cho tôi theo như thỏa thuận với ngân hàng. Cụ thể là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng) để tôi đóng ngân hàng.

Chúng tôi đã thỏa thuận với nhau và sẽ theo thỏa thuận này mà thực hiện”.

Ông T cho rằng căn cứ theo Biên Bản Thỏa Thuận ngày 16 tháng 8 năm 2017 giữa ông và bà H đã thỏa thuận tất cả các nội dung về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng. Cũng từ văn bản thỏa thuận trên, ông T đã thay mặt bà H thanh toán xong tất cả các khoản nợ cho Ngân hàng (230 triệu đồng) và các chủ nợ khác (68 triệu đồng). Ngoài ra, ông T có giao cho bà H tiền mặt là 100 triệu đồng khi các bên ký Biên Bản T. Cũng từ đó, bà H đã giao cho ông T trực tiếp quản lý, sử dụng nhà và đất của vợ chồng. Vì ông T tin rằng sau khi thực hiện xong các cam kết theo Biên Bản, thì bà H sẽ ký sang tên Giấy chứng nhận cho ông T như đã thỏa thuận. Tuy nhiên, đã nhiều lần ông T yêu cầu bà H ký sang tên nhưng bà H liên tục từ chối.

Nay ông T yêu cầu Tòa án giải quyết: Công nhận quyền sử dụng thửa đất số 106, tờ 112 cho ông T theo Biên Bản Thỏa Thuận ngày 16 tháng 8 năm 2017 và yêu cầu bà H thực hiện việc ký sang tên cho ông T giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 106, tờ số 112, bản đồ địa chính xã N với diện tích 912,6m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy CNQSDĐ số CH06638 ngày 20 tháng 4 năm 2016 mang tên ông Đỗ Anh T và bà Nguyễn Thị Hồng H. Vì tại thời điểm ký Biên Bản T giấy chứng nhận thế chấp tại Ngân hàng nên ông T không thực hiện ký sang tên được.

- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Lê Văn T1 và bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng H cùng trình bày:

Tại thời điểm ký Biên Bản T tâm lý của bà H bị ảnh hưởng do mâu thuẫn vợ chồng phát sinh gay gắt, bà H không thể tiếp tục chung sống với ông T1. Bà H cho rằng ông T1 ép buộc bà ký để ông T1 lấy nhà. Đối với số tiền 100 triệu đồng, ông T1 nói giao cho bà H là không có. Vì vậy, nay bà H không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vào ngày 26 tháng 5 năm 2023, bà H có đơn yêu cầu phản tố với các mục sau:

  1. Bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Anh T.
  2. Yêu cầu Tòa án xác định khoản nợ chung và chia 2 khoản nợ này. Bị đơn đồng ý trả khoản nợ chung là: 255.000.000 đồng mỗi người chịu 127.500.000 đồng.
  3. Yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung là nhà và đất thuộc thửa đất số: 106 tờ bản đồ số 12. Diện tích: 912,6m² (trong đó có 400m² đất thổ cư +512,6m² đất cln) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CD 003542 vào sổ cấp GCN: CH06638 được UBND thị xã N cấp ngày 20/4/2016. Bị đơn xin được nhận hiện vật bằng quyền sử dụng đất có diện tích đất: 456,3m² trong đó có: 200m² thổ cư +256,3m² đất trồng cây lâu năm.
  4. Về căn nhà trên đất là tài sản chung của vợ chồng, nếu ông T muốn sở hữu căn nhà thì phải thổi lại ½ (một phần hai) giá trị cho bị đơn theo Chứng thư thẩm định giá.
  5. Xe honda Air Blade biển số: 79H1 - 091.99 có giá trị: 7.000.000 đồng bị đơn đồng ý thối lại ½ giá trị chiếc xe cho ông T4 ngược lại ông T sở hữu chiếc xe thối lại giá trị cho bị đơn 3,5 triệu đồng.
  6. Xe way Trung quốc biển số: 79 N1-7311 có giá trị: 4.000.000đ bị đơn đồng ý thối lại ½ giá trị chiếc xe cho ông T4 ngược lại ông T sở hữu chiếc xe thổi lại giá trị cho bị đơn 2 triệu đồng.
  7. Các vật dụng, thiết bị gia dụng tổng giá trị: 38.700.000đồng. Nếu ông T sở hữu thì có trách nhiệm thối lại giá trị ½ cho bị đơn là: 19.350.000đồng/hoặc ngược lại bị đơn sẽ thối ½ giá trị cho ông T,

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Ngô Thị M, bà Đỗ Thị Thùy D, bà Lê Thị Xuân H1, bà Nguyễn Thị H2 với nội dung liên quan đến việc nợ tiền, vàng của ông T và bà H. Nay những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều xác nhận ông T và bà H đã thực hiện nghĩa vụ trả đủ tiền nên họ không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Tiến D1, bà Trương Thị Thu T2, đại diện Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh K – Phòng G1 đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng họ không đến tham gia.

Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 115/2023/HNGĐ – ST ngày 31/8/2023 của Toà án nhân dân thị xã Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà đã quyết định:

Căn cứ Điều 213, 219 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 28, 33 và Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Anh T: Giao cho ông Đỗ Anh T được toàn quyền sử dụng đối với thửa đất số 106, tờ bản đồ số 112, bản đồ địa chính xã N, với diện tích 912,6m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy số CH06638 ngày 20 tháng 4 năm 2016, tọa lạc tại thôn P, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa (có bản vẽ kèm theo).

2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng H về việc yêu cầu chia tài sản chung.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Đỗ Anh T và bà Nguyễn Thị Hồng H phải liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được điều chỉnh, cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai.

Ngoài ra Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, trách nhiệm chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 06 tháng 9 năm 2023, bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng H có đơn kháng cáo đối với Bản án sơ thẩm số: 115/2023/HNGĐ – ST ngày 31/8/2023 của Toà án nhân dân thị xã Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị Hồng H yêu cầu tạm ngừng phiên tòa để xem xét thẩm định, định giá lại tài sản tranh chấp và yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử sửa bản án sơ thẩm, chia đôi tài sản chung là nhà đất thuộc thửa đất số 106, tờ bản đồ số 112, bản đồ địa chính xã N, tọa lạc tại thôn P, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa bằng hiện vật.

Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị: Tai phiên tòa, bị đơn yêu cầu tạm ngừng phiên tòa để xem xét, thẩm định và định giá tài sản tranh chấp. Đây là quyền lợi của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận. Về tố tụng: Bản án dân sự sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng. Cụ thể theo Quyết định định thành lập Hội đồng định giá tài sản có ông Võ Hoàng G – Phó phòng quản lý đô thị thị xã N là Ủy viên Hội đồng. Nhưng tại Biên bản định giá tài sản ngày 23/6/2023 không thể hiện có tên ông Võ Hoàng G và cũng không có ông G ký tên trên biên bản. Biên bản định giá đã không định giá đất thị trường là gây thiệt hại cho bên bị đơn và cũng không phù hợp trong việc tính án phí của nguyên đơn. Về nội dung: Biên bản thỏa thuận ngày 16/08/2017 vi phạm về hình thức không được công chứng, chứng thực. Tài sản chung đang thế chấp tại Ngân hàng nhưng hai bên tự thỏa thuận chia tài sản chung không đưa Ngân hàng vào để thỏa thuận là không có căn cứ. Theo Điều 213 và Điều 219 Bộ luật dân sự năm 2015, ông T gian dối trong việc lập biên bản này, số tiền vật liệu xây dựng nợ Huệ T3 đã được trả hết vào năm 2016, có xác nhận của bà T3 nhưng ông T vẫn ghi vào biên bản và nhờ bà T3 xác nhận có trả 68 triệu đồng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên hủy Biên bản thỏa thuận ngày 16/8/2017 và chấp nhận yêu cầu kháng cáo chia tài sản chung của bà H. Đối với phần xe máy, các vật dụng trong gia đình, tại phiên tòa ông T và bà H đã thỏa thuận được nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận này.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đều thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bà H yêu cầu tạm ngừng phiên tòa để xem xét thẩm dịnh, định giá tài sản lại tài sản tranh chấp là không có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu tạm ngừng phiên tòa. Về nội dung vụ án: Ông T và bà H ly hôn ngày 23/8/2017 nhưng chưa giải quyết tài sản chung. Ngày 16/8/2017 ông T và bà H có lập Biên bản thỏa thuận có nội dung ông T sẽ chịu trách nhiệm trả nợ chung cho bà D, bà M và Ngân hàng, và nhà đất sẽ thuộc về ông T, bà H không còn liên quan gì. Bà H cũng xác nhận từ thời điểm ly hôn, ông T là người ở tại nhà đất tranh chấp và thanh toán các khoản nợ Ngân hàng, nợ bà D, bà M. Như vậy, các bên đã thực hiện đúng theo thỏa thuận của biên bản ngày 16/8/2017 nên cấp sơ thẩm giao nhà và đất cho ông T được quyền sở hữu và sử dụng là có căn cứ. Đối với các tài sản là xe, các vật dụng khác ông T và bà H đã thỏa thuận được nên công nhận sự thỏa thuận này.

Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị đơn bà H; sửa một phần bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị M, ông Nguyễn Tiến D1, bà Nguyễn Thị H2, bà Trương Thị Thu T2 và đại diện Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh K - Phòng G1 đều vắng mặt nên căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng H yêu cầu tạm ngừng phiên tòa để xem xét thẩm định tại chổ và định giá lại tài sản tranh chấp: Xét thấy, tại Biên bản xem xét thẩm định tại chổ ngày 03/3/2023 các đương sự đều tham gia. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn, bị đơn đều xác nhận có các công trình trên đất là nhà cấp 4, mái che (mái tôn), tường rào lưới B40 cột bê tông và không có ý kiến gì về các công trình trên đất, diện tích đất....Đối với biên bản định giá ngày 23/6/2023 của cấp sơ thẩm đã định giá tất cả các tài sản tranh chấp, tại phiên tòa sơ thẩm các đương sự đều thống nhất theo Biên bản định giá ngày 23/6/2023 không yêu cầu định giá lại. Bà H yêu cầu xem xét thẩm định và định giá lại để chia tài sản tranh chấp bằng hiện vật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải xem xét thẩm định, định giá lại nên không chấp nhận yêu cầu tạm ngừng phiên tòa của bị đơn.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng H:

Ông T và bà H ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 302/2017/QĐST-HNGĐ ngày 23/8/2017 nhưng chưa giải quyết tài sản chung. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn thừa nhận trong thời kỳ hôn nhân bà H và ông T chỉ có tạo lập được thửa đất số 106, tờ bản đồ số 12 có diện tích 912,6m² và căn nhà cấp 4 có diện tích 88m² theo giấy chứng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy số CH06638 ngày 20 tháng 4 năm 2016, tường rào lưới B40 và mái phần mái tôn có diện tích 154,0m² (theo bản vẽ lập ngày 17/04/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã N) và có các khoản nợ chung là nợ Ngân hàng V – phòng G1, nợ bà Đỗ Thị Mỹ D2, bà Ngô Thị M, ngoài ra không có tài sản chung nào khác.

[2.1] Theo Quyết định định thành lập Hội đồng định giá tài sản số 80/2023/QĐ-ĐG ngày 16/6/2023 có ông Võ Hoàng G – Phó phòng quản lý đô thị thị xã N là Ủy viên Hội đồng. Nhưng tại Biên bản định giá tài sản ngày 23/6/2023 không thể hiện có tên ông Võ Hoàng G và cũng không có ông G ký tên trên biên bản. Ngày 05/4/2024, Tòa án có Văn bản số 1115/TA-DS ngày 05/4/2024 yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa giải thích về việc không có ông Võ Hoàng G ký Biên bản định giá tài sản ngày 23/6/2023. Tại công văn số 172/2024/TA-DS ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa và Giấy xác nhận của ông Võ Hoàng G ngày 09/4/2024 đều xác nhận ngày 23/6/2023, ông Võ Hoàng G có tham gia định giá tài sản tranh chấp thuộc thửa đất số 106, tờ bản đồ số 112 tọa lạc tại thôn P, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa nhưng do sơ suất nên quên không ký vào Biên bản định giá. Như vậy, việc định giá của cấp sơ thẩm đều tiến hành đúng thành phần, việc thành viên Hội đồng định giá ông Võ Hoàng G không ký và ghi tên vào biên bản định giá là do sơ suất nhưng không ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

[2.2] Đối với kháng cáo của bị đơn cho rằng việc định giá của cấp sơ thẩm là gây thiệt hại cho đương sự, có sự sai sót trong biên bản định giá, định giá rất thấp so với giá thị trường. Hội đồng xét xử xét thấy, theo biên bản định giá ngày 23/6/2023 có thể hiện phần giá đất ở là 78.000đ/m² và giá đất trồng cây lâu năm là 45.000đ/m². Đối với phần nhà và các công trình: phần nhà cấp 4 có giá 4.133.937đ/m² nhưng cấp sơ thẩm tính ra tổng giá trị nhà là 25.645.015đồng có sai sót. Tổng giá trị nhà là 4.133.937đ x 88m² x 70% = 254.650.519đồng. Tổng giá trị toàn bộ nhà và đất cùng các công trình xây dựng khác là 506.061.849đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn bà H xác nhận bà đồng ý với Biên bản định giá và không yêu cầu định giá lại. Nguyên đơn cũng thống nhất với Biên bản định giá. Do đó, bị đơn và luật sư cho rằng cấp sơ thẩm định giá thấp hơn giá thị trường gây thiệt hại cho các đương sự là không có sơ sở.

[2.3] Kháng cáo của bị đơn cho rằng biên bản thỏa thuận ngày 18/6/2017 vô hiệu.

Ông T và bà H khi ly hôn thì có lập biên bản ngày 18/6/2023, có nội dung: “Số nợ mà vợ chồng tôi nợ của chị gái tôi là bà Đỗ Thị Thùy D là 2 chỉ vàng 96% và mẹ tôi là bà Ngô Thị M là 01 chỉ vàng 96%. Số nợ này là do tôi trả. Và các khoản nợ Huệ T3.

- Chiếc xe máy hiệu Airblack biển kiểm soát 79H1 – 09199 do vợ tôi nắm giữ. Phần đất và khoản nợ vay ngân hàng 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu) thì tôi sẽ trả. Và nhà đất thuộc về tôi và vợ tôi không liên quan gì nữa.

- Số tiền mà mẹ vợ tôi và bố vợ là: ông Nguyễn Tiến D1 và Nguyễn Thị H2 có nhờ tôi vay ngân hàng thì hàng tháng vẫn phải trả cho tôi theo như thỏa thuận với ngân hàng. Cụ thể là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng) để tôi đóng ngân hàng.

Chúng tôi đã thỏa thuận với nhau và sẽ theo thỏa thuận này mà thực hiện”.

[2.3.1] Bà H xác nhận có ký biên bản nhưng cho rằng vì lúc đó muốn nuôi con và bị ông T đánh đập, đe dọa nên mới ký nhưng không có tài liệu hay chứng cứ nào chứng minh cho lời trình bày của mình. Sau khi ký biên bản bà H và các con không ở tại tài sản tranh chấp và bà H có sử dụng xe AB 79H1-.091.99. Ông T ở, quản lý và sử dụng nhà đất tranh chấp và trả tất cả các khoản nợ cho Ngân hàng, bà Đỗ Thị Mỹ D2, bà Ngô Thị M. Điều này cũng được bà H, bà D2, bà M và Ngân hàng xác nhận. Từ khi ly hôn đến khi tất toán xong khoản nợ ngân hàng, bà H cũng không nói gì về việc trả nợ, hay khiếu nại, tranh chấp gì về tài sản chung. Khi ông T yêu cầu bà H làm thủ tục sang tên trên sổ đỏ thì bà H không đồng ý.

[2.3.2] Như vậy, mặc dù biên bản thỏa thuận không được công chứng, chứng thực nhưng biên bản này là sự thỏa thuận tự nguyện của ông T và bà H về việc thực hiện các nghĩa vụ trả nợ đối với người thứ 3 cũng như việc phần chia tài sản sản chung giữa vợ và chồng khi ly hôn. Các bên khi ký biên bản hoàn toàn tự nguyện, ông T đã thực hiện đúng cam kết trả tất cả các khoản nợ chung nên ông T phải được toàn quyền sở hữu sử dụng nhà đất theo biên bản thỏa thuận. Tại thời điểm lập biên bản ngày 16/8/2017, nhà và đất có thế chấp cho Ngân hàng V - Chi nhánh K – Phòng G1 nhưng các bên có thỏa thuận khoản nợ ông T trả. Đến ngày 08/11/2021, ông T đã trả cả gốc và lãi và hợp đồng tín dụng được tất toán, Ngân hàng đã xác nhận và không có ý kiến gì nên không ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng.

[2.4] Dó đó, cấp sơ thẩm bác yêu cầu phản tố của bị đơn về việc chia các khoản nợ chung, yêu cầu phân chia tài sản chung là nhà quyền sử dụng đất và căn nhà thuộc thửa đất số: 106 tờ bản đồ số 12 tại thôn P, xã N, thị xã N, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn công nhận Biên Bản Thỏa Thuận ngày 16 tháng 8 năm 2017 giữa ông T và bà H, giao cho ông T được quyền sử dụng, sở hữu toàn bộ nhà và đất thuộc thửa 106, tờ số 112, bản đồ địa chính xã N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy CNQSDĐ số CH06638 ngày 20 tháng 4 năm 2016 mang tên ông Đỗ Anh T và bà Nguyễn Thị Hồng H là có căn cứ.

[2.5] Đối với các tài sản khác là xe máy hiệu Air black, biển kiểm soát 79H1-09199, xe wave biển kiểm soát 79N1-7311 và toàn bộ vật dụng trong gia đình, ông T và bà H thống nhất xe Air black có giá trị 7.000.000đồng, xe wave có giá trị 4.000.000đồng và các vật dụng trong gia đình có giá trị 38.700.000đồng. Bà H sở hữu xe Air black, ông T sở hữu xe wave và toàn bộ vật dụng trong gia đình. Ông T thanh toán lại cho bà H 17.800.000đồng. Đây là sự thỏa thuận của các đương sự nên ghi nhận.

[2.6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị đơn và sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự đối với phần sở hữu xe máy và các vật dụng khác trong gia đình.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phân phần tài sản mình được nhận có giá trị: 506.061.849 đồng là 24.242.000đồng.

Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu phản tố bị bác về phàn chia tài sản chung là 300.000đồng và án phí đối với phần tài sản chung được nhận có giá trị 24.850.000đồng là 1.245.000đồng. Tổng cộng 1.545.000 đồng.

Về lệ phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện nộp chi phí đo vẽ, định giá thay bị đơn. Nguyên đơn đã nộp đủ.

Bị đơn bà H nộp 5.610.000đồng chi phí giám định. Bà H đã nộp đủ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bác kháng cáo của bị đơn.

Áp dụng Điều 213, Điều 219 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 28, Điều 33, Điều 59 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 và Nghị quyết 326/2016/UBNVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Anh T về việc “Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn”.

    [1.1] Công nhận biên bản thỏa thuận ngày 16/8/2017 giữa ông Đỗ Anh T và bà Nguyễn Thị Hồng H.

    [1.2] Giao cho ông Đỗ Anh T được quyền sở hữu, sử dụng nhà và đất tọa lạc thôn P, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Phần đất có diện tích 912,6m² + phần diện tích xây dựng nhà cấp 4 là 88,0m² có kết cấu tường gạch, mái ngói, cửa gỗ, nền gạch men + phần mái tôn có diện tích 154,0m² 6+tường rào lưới B40. Toàn bộ phần nhà, mái tôn và đất thuộc thửa đất 106, tờ bản đồ số 112 (nay là thửa đất số 106, tờ bản đồ 112 mới hệ tọa độ VN-2000) xã N (theo bản vẽ lập ngày 17/04/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã N). Đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CD 003542, số vào sổ cấp GCN : CH06638 do UBND thị xã N cấp ngày 20/4/2016 đứng tên ông Đỗ Anh T và bà Nguyễn Thị Hồng H.

    Ông Đỗ Anh T liên hệ các cơ quan chức năng làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định.

  2. [2] Bác một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng H về các nội dung sau:

    [2.1] Yêu cầu Tòa án xác định khoản nợ chung và chia hai khoản nợ (255.000.000đồng), bị đơn, nguyên đơn mỗi người trả 127.500.000 đồng.

    [2.2] Yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung là nhà và đất thuộc thửa đất số 106 tờ bản đồ số 12, diện tích 912,6m² (trong đó có 400m² đất thổ cư +512,6m² đất cây lâu năm) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 003542 vào sổ cấp GCN: CH06638 được UBND thị xã N cấp ngày 20/4/2016.

  3. [3] Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn về việc tranh chấp tài sản chung sau ly hôn và công nhận sự thỏa thuận của ông Đỗ Anh T và bà Nguyễn Thị Hồng H.

    Ông Đỗ Anh T được sở hữu xe máy hiệu Wave, biển kiểm soát 79N1-7311 và các vật dụng trong gia đình. Bà Nguyễn Thị Hồng H được sở hữu xe máy hiệu Air Black biển kiểm soát 79H1-091.99. Ông Đỗ Anh T có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Nguyễn Thị Hồng H 17.850.000đồng (mười bảy triệu, tám trăm năm mươi ngàn đồng).

  4. [4] Về án phí:

    [4.1] Án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Hồng H được hoàn lại 300.000đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu tiền số AA/2022/0001381 ngày 19/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa.

    [4.2] Án phí sơ thẩm: Ông Đỗ Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là là 24.242.000đồng (hai mươi bốn triệu, hai trăm bốn mươi hai ngàn đồng) nhưng được trừ vào 11.980.000đồng (mười một triệu, chín trăm tám mươi ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0004568 ngày 01/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa. Như vậy, ông T còn phải nộp 12.260.000đồng (mười hai triệu, hai trăm sau mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Nguyễn Thị Hồng H phải nộp 1.545.000đồng (một triệu, năm trăm bốn mươi lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 6.000.000đồng (sáu triệu đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2022/0001171 ngày 28/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa. Bà H được hoàn lại 4.455.000đồng (bốn triệu, bốn trăm năm mươi lăm ngàn đồng).

  5. [5] Về chi phí tố tụng: Ông Đỗ Anh T và bà Nguyễn Thị Hồng H đã nộp đủ chi phí tố tụng.

Quy định chung: Kể từ ngày bà Nguyễn Thị Hồng H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Đỗ Anh T chậm thi hành khoản tiền trên thì phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.

Trường hợp quyết được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Chi cục THADS Ninh Hòa;
  • - TAND thị xã Ninh Hòa;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ; Án văn; Văn phòng.

TM. HỎI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Võ Thị Trầm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/HNGĐ-PT ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp về chia tài sản chung sau ly hôn

  • Số bản án: 07/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản chung sau ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa nguyên đơn ông Đỗ Anh T và bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger