Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/DS-ST

Ngày: 26 - 9 - 2024

V/v Tranh chấp lối đi, yêu cầu

bồi thường thiệt hại về tài sản và

yêu cầu hủy GCNQSD đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Doanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Vi Thanh Cầm
  2. Ông Vũ Hồng Khanh

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Miên, Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dântỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Dịu - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 07/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 về việc "Tranh chấp lối đi, yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lý Thị Y, sinh năm 1972. Có mặt
  2. Bị đơn: Ông Lý Văn A, sinh năm 1965. Có mặt

Cùng địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • 3.1. Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn

Địa chỉ: Phố Ngã Ba ,thị trấn Phủ Thông, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà Kim O - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hoàng A1 - Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B, tỉnh Bắc Kạn (theo Giấy ủy quyền số

153/GUQ-UBND ngày 22/01/2024 của Chủ tịch UBND huyện B). Có đơn xin vắng mặt.

  • 3.2. Bà Bàn Thị L. Có mặt
  • 3.3. Lý Tiến N. Vắng mặt
  • 3.4. Lý Hoài N1. Có mặt.
  • 3.5. Bà Đặng Thị N2, sinh năm 1924. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

  1. Người làm chứng:
  • 4.1 Chị Bàn Thị K, sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
  • 4.2. Bà Lý Thị T, sinh năm 1978. Địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
  • 4.3. Ông Ma Văn L1, sinh năm 1948. Địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
  • 4.4. Anh Triệu Văn K1, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
  • 4.5. Ông Lý Văn D, sinh năm 1961. Địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 11 năm 2022 và các bản khai nguyên đơn bà Lý Thị Y trình bày:

Năm 1997 bà Lý Thị Y vào khe K thuộc thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn để làm nhà ở trong đó và bà có tự khai phá con đường đất. Con đường này không nằm trên phần đất của ai cả. Sau đó gia đình ông Lý Văn A vào phát và trồng quýt ở phía ngoài nhà bà và cũng đi nhờ con đường bà làm. Con đường đó hình thành mấy chục năm này không có tranh chấp. Tuy nhiên, đến năm 2021 ông Lý Văn A đã rào lại, chặn con đường này lại không cho bà Y đi lại. Ngày 28/01/2022 bà Y đã mời công an xã Q đến lập biên bản tại lối đi chung về hành vi rào chắn đường của ông A, nhưng ông A không thực hiện việc dỡ bỏ rào chắn làm ảnh hưởng đến việc đi lại để canh tác, quản lý đồi cam, quýt của bà Y. Ngày 03/3/2022 bà Y có đơn gửi Trưởng thôn Nà H yêu cầu giải quyết tranh chấp lối đi chung và thôn N đã tổ chức hòa giải việc tranh chấp lối đi giữa bà Y và ông A nhưng không thành, ông A không thực hiện việc dỡ rào chắn không những ảnh hưởng đến việc canh tác, quản lý đồi quýt của bà Y mà còn ảnh hưởng lớn đến việc bà Y không thể vận chuyển số lượng cam, quýt đã thu hoạch để mang đi bán. Ngày 28/4/2022 Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã Q đã tổ

chức hòa giải việc tranh chấp lối đi chung giữa bà Y và ông A nhưng buổi hòa giải không thành do ông A vẫn cố tình không thực hiện việc dỡ bỏ hàng rào chắn. Do vậy ngày 13/11/2022 bà Y đã viết đơn khởi kiện và nộp tại Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông ngày 25/11/2022.

Về nguồn gốc phần diện tích đất tranh chấp lối đi nguyên đơn khai có nguồn gốc do bà Đặng Thị N2 (Mẹ đẻ của nguyên đơn Lý Thị Y) khai phá tại khu đất này từ năm 1997 bà Y có dựng 01 ngôi nhà tại vị trí gần vườn cam, quýt của bà Y tại vị trí dựng nhà này bà Y đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ ) năm 2006. Đến năm 2013 được cấp đổi số BQ 000485, thửa đất số 11, tờ bản đồ 10 do UBND huyện B cấp ngày 21/6/2013. Khi dựng nhà cửa để ở và canh tác tại đồi cam quýt này để thuận lợi đi lại bà Y đã tự mở lối đi làm đường để đi lại, con đường được mở từ thửa đất số 11 của bà Y kéo dài ra ngoài thông với đường dân sinh của thôn N. Tuy nhiên bà Y xác định phần đất tranh chấp lối đi hiện nay bà Y yêu cầu Tòa án giải quyết là phần lối đi theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn ngày 06/6/2023, ngoài ra bà Y không yêu cầu giải quyết tranh chấp đối với những phần khác của lối đi.

Vì nguồn gốc phần đất tranh chấp lối đi là có nguồn gốc của bà Đặng Thị N2 mẹ đẻ của nguyên đơn bà Y và bị đơn ông A nên khi có dự án cấp GCNQSDĐ ông A tự kê khai phần đất này để làm thủ tục xin cấp GCNQSDĐ đã kê khai cả phần đất thuộc lối đi này. Khi Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ thì bà Y mới biết con đường này đã được UBND huyện B cấp GCNQSDĐ số AO 425111 đối với thửa đất số 1199, tờ bản đồ 1do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 18/7/2008 cho hộ ông Lý Văn A và bà Bàn Thị L, địa chỉ thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

Do bị đơn ông A rào chắn đường đi lại nên vào thời gian tháng 01 năm 2022 nguyên đơn bà Y không thể vận chuyển số cam đã thu hoạch được để mang đi bán với số lượng cam là hơn một tấn, theo đơn giá nguyên đơn tự xác định thời điểm tháng 01 năm 2022 là 25.000 đồng /1kg. Do vậy nguyên đơn yêu cầu ông A phải bồi thường số cam mà nguyên đơn không mang đi bán được với tổng số tiền là 25.000.000 đồng (Hai mươi năm triệu đồng)

Nay bà Y yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn giải quyết:

  • Yêu cầu bị đơn ông Lý Văn A, địa chỉ tại thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn dỡ bỏ hàng rào chắn, trả lại lối đi lại vào vườn và nhà của bà Y có chiều dài 87,6m, chiều rộng 1,7m.
  • Yêu cầu bị đơn Lý Văn A bồi thường thiệt hại về tài sản cụ thể: Hơn 01 tấn cam tính thành tiền là 25.000.000₫ (Hai mươi năm nghìn đồng).
  • Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 425111 đối với thửa đất số 1199, tờ bản đồ 1do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 18/7/2008 cho hộ ông Lý Văn A và bà Bàn Thị L, địa chỉ thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
  1. Bị đơn ông Lý Văn A trình bày:

Năm 1992 ông A có nhận 01 lô đất tại khe K, thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Khi đó ông A còn ở chung với mẹ đẻ Đặng Thị N2 và bà Y. Con đường dẫn vào đất này do ông A tự làm vào năm 1991, bà Y không giúp ông A làm đường. Đến năm 1993, bà Y ra ở riêng ở chỗ hiện tại bà Y đang ở bây giờ. Đến khoảng năm 1996, 1998 do thấy chỗ ở chập hẹp và dốc nên ông A mới cho bà Y vào trong vườn quýt tại khe K, thôn N để ở, có cả mẹ đẻ bà Đặng Thị N2 theo cùng. Bà Y sử dụng con đường này nhưng lấn chiếm đất của ông A, rủ rê con cái trộm cắp cam, quýt nên ông A phải rào chặn lại. Năm 2008 ông A được cấp GCNQSDĐ trong đó con đường này thuộc vào đất của ông A. Thủ tục cấp GCNQSDĐ đúng pháp luật nên ông A không chấp nhận mở đường cho bà Y, không chấp nhận bồi thường, không chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Về nguồn gốc thửa đất ông A trình bày: Thửa đất 1199 của ông A cũng như thửa số 1197 của bà Y đều được cấp GCNQSDĐ năm 2008 có chung nguồn gốc là đất lâm nghiệp của anh trai ông ALý Văn D. Ông D được cấp sổ bìa xanh khoảng năm 1992, 1993. Năm 2004, đất lâm nghiệp của ông D hết thời hạn sử dụng ông D chia tách tặng cho ông A và bà Y một phần đất này. Khi tặng cho thì không làm hợp đồng, giấy tờ gì. Sau đó ông A và bà Y tự kê khai xin cấp GCNQSDĐ cùng thời điểm và cùng được cấp GCNQSDĐ năm 2008.

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • 3.1. Ủy ban nhân dân huyện B người đại diện theo ủy quyền -Ông Lê Hoàng A1 - Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B trình bày:

Về hồ sơ cấp GCNQSDĐ sốAO 425111 đối với thửa đất số 1199, tờ bản đồ 1do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 18/7/2008 cho hộ ông Lý Văn A và bà Bàn Thị L, địa chỉ thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.gồm có:

  1. Đơn xin cấp GCNQSDĐ tên ông Lý Văn A ngày 18/10/2007;
  2. Biên bản giao đất ngoài thực địa ngày 18/10/2007;
  3. Sơ đồ trích lục hình thể ngày 10/5/2004 do cán bộ kỹ thuật Nguyễn Đông D1 vẽ;
  4. Quyết định số 858/QĐ-UBND ngày 18/7/2008 về việc phê duyệt giao đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại xã Q kèm theo danh sách các hộ được cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp tại xã Q;
  5. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 425111 đối với thửa đất số 1199, tờ bản đồ 1do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 18/7/2008 cho hộ ông Lý Văn A và bà Bàn Thị L, địa chỉ thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

Ý kiến của UBND huyện B đối với yêu cầu hủy GCNQSDĐ số AO 425111 đối với thửa đất số 1199, tờ bản đồ 1do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 18/7/2008 cho hộ ông Lý Văn A và bà Bàn Thị L. Đề nghị Tòa án căn cứ

các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được để xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

  • 3.2. Bà Bàn Thị L trình bày:

L nhất trí với ý kiến trình bày của bị đơn Lý Văn A, không nhất trí với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lý Thị Y.Ngoài ra không có ý kiến gì thêm.

  • 3.3. Anh Lý Hoài N1 trình bày:

Anh N1 nhất trí với ý kiến trình bày của bị đơn Lý Văn A, không nhất trí với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lý Thị Y.Ngoài ra không có ý kiến gì thêm.

  • 3.4. Bà Đặng Thị N2 khai:

N2 đến làm dâu và sinh sống ở thôn N, xã Q từ năm 1972, phần đất hiện nay nguyên đơn và bị đơn tranh chấp lối đi là do bà N2 khai phá để sinh sống, bà có 06 người con nhưng 02 người con đã chết, hiện nay bà N2 còn 04 người con. Tuy nhiên, do bà là người dân tộc thiểu số và không hiểu biết nên bà N2 không phân chia đất đai cho các con, sau khi các con bà lớn lên xây dựng gia đình và tách ra ở riêng thì mỗi người nhận một phần đất để dựng nhà và canh tác và tự kê khai xin cấp GCNQSDĐ. Bà N2 khẳng định phần đất hiện nay đang tranh chấp lối đi là con đường duy nhất để đi vào vườn đồi cam, quýt của bà Y, ngay gần vườn đồi cam, quýt của bà Y ngày trước bà Y có dựng nhà ở nên vẫn sử dụng con đường hiện nay đang tranh chấp lối đi này để đi lại sinh hoạt, bà không đồng ý với việc ông A rào chắn phần đường là lối đi vào vườn đồi cam, quýt của bà Y.

  1. Người làm chứng:
  • 4.1. Chị Bàn Thị K khai:

Chị là cháu gọi bà Y là dì ruột, ông A là bác ruột. Giữa chị với ông A, bà Y không có mâu thuẫn gì. Con đường đi có từ trước. Sau này bà Y vào ở trong đó thì có cải tạo, mở rộng con đường để đi lại cho thuận tiện. Do đất của bà Y ở phía trong đất của ông A nên con đường phải đi qua đất của ông A. Do bà ngoại chị (bà Đặng Thị N2) ở với bà Y nên mỗi khi vào thăm bà ngoại, chị đều được hộ bà Y mở đường cho rộng hơn. Khi bà Y làm đường thì không thấy ông A ngăn cản.

  • 4.2. Bà Lý Thị T khai:

Bà là em họ của ông A và bà Y. Giữa bà với ông A, bà Y không có mâu thuẫn gì. Con đường đang có tranh chấp có từ khi bà còn nhỏ, còn ai làm thì bà không biết. Bà không được hộ bà Y làm đường lần nào. Vào năm 2022 (không nhớ ngày), bà Y có thuê vợ chồng bà (chồng bà TTriệu Văn K1) đến thu hoạch cam. Khi bà đi vào không thấy ai ngăn cản. Đến buổi chiều chuyển cam ra thấy có một cây nứa chắn ngang đường. Chồng bà dắt xe máy đi qua và để số cam lại. Sau đó bà Y vác cam qua. Ông A chỉ gác cây nứa, ông vẫn cho mọi người đi lại, bà Y vẫn vận chuyển cẩm ngoài được. Ngày thu hoạch, vợ chồng bà

có thu hoạch được khoảng 200 kg cam. Trên cây còn lại ít cam. Số cam thu hoạch hôm đó bà Y đã vận chuyển hết ra ngoài. Bà không thấy cam rơi tại vườn. Sau hôm đó bà không vào đó nưa nên không biết số cam còn lại như thế nào.

  • 4.3. Anh Triệu Văn K1 khai:

Ông là em rể của ông A, bà Y (vợ ông bà Lý Thị T là em họ của ông A, bà Y). Giữa ông với bà Y, ông A không có mâu thuẫn gì. Năm 2012, ông về sinh sống ở đây đã thấy con đường. Ông không được bà Y nhờ mở rộng con đường vào vườn của bà Y. Năm 2022 (không nhớ này), ông và vợ ông (bà Lý Thị T) được bà Y nhờ thu hoạch cam, cam quýt. Khi ông đi vào vườn của bà Y không bị ai ngăn cản, không thấy ông A lập rào chắn. Đến chiều khi quay ra thì thấy có rào chắn bằng cây nứa. Khi đó, ông có để cam, quýt lại và dắt xe qua. Còn cam, quýt do bà Y vác ra ngoài. Ngày hôm đó thu hoạch được khoảng 200kg cam, trên cây còn lại ít cam. Khi thu hoạch cam, ông không thấy có cam rơi. Sau đó, ông không vào nữa nên không biết số cam còn lại trên cây do ai thu hoạch.

  • 4.4. Ông Ma Văn L1 khai:

Ông là người cùng thôn, giáp nhà ông A, bà Y. Giữa ông với ông A, bà Y không có mâu thuẫn gì. Năm 1998, ông về dây sinh sống đã thấy có con đường mòn dẫn vào khu đất của bà Y. Khi đó con đường rất nhỏ. Năm 2000, bà Y chuyển vào khu đất bên trong đất nhà ông A để ở. Sau khi chuyển đến ở, bà Y có cải tạo, mở rộng con đường để đi lại cho thuận lợi. Bà Y có nhờ ông hộ mở rộng đường. Sau mỗi lần mưa bão, đường bị xói lở thì lại sửa chữa. Nguồn gốc phần đất của bà Y và ông A là do bà N2 mẹ đẻ của bà Y, ông A chia cho các con. Khi ông L1 chuyển đến sinh sống đã thấy bà Y sử dụng thửa đất ở bên trong và ông A sử dụng thửa đất ở bên ngoài và ông thấy chỉ có bà Y là người sửa chữa con đường, ông A không có công sửa đường. Khoảng năm 2021,2022 thấy ông A lấy cây nứa, dây thép đóng cọc chặn đường không cho bà Y đi. Bà Y phải sử dụng lòng suối để đi lại rất khó khăn. Con đường ang cótranh chấp là con đường duy nhất để bà Y có thể đi vào được đất của bà Y.

  • 4.5. Ông Lý Văn D khai:

Ông là anh trai ruột của ông A, bà Y. Con đường đang có tranh chấp giữa hai bên trước đây là lối trâu đi không thành đường. Sau đó do cần đường vào đồi quýt nên ông và ông A đã cùng giúp nhau cải tạo thành đường đi. Thời gian làm đường do thời gian đã lâu nên ông không nhớ. Phần đất này có nguồn gốc là do bà N2 mẹ đẻ của ông D, ông A, bà Y dẫn các con đến ở nhưng ông D có công sức khai phá. Bà Y khởi kiện ông A tranh chấp lối đi, ông không có liên quan, ông không có ý kiến gì tuỳ các em giải quyết. Hiện nay chỉ có con đường này để đi vào vườn đồi cam, quýt của bà Y ngoài ra không có con đường nào khác.

Tại buổi xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 6/6/2023 và kết quả đo đạc lập ngày 19/10/2023 đã xác định:

Phần lối đi đang có tranh chấp đi qua thửa đất 1199, tờ bản đồ số 01 dã được UBND huyện B cấp GCNQSDĐ cho hộ ông A, bà L có chiều dài chạy dọc

theo suối N nằm phía Tây thửa đất, một cạnh là 104,57m, một cạnh là 95,9m. Tổng diện tích là 166,6m².

Ngày 28/8/2024, hai bên đương sự có Biên bản thoả thuận về giá xác định giá trị của lối đi đang có tranh chấp là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) nhưng bà Y không nhất trí đền bù.

Ngày 26/7/2024, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Kạn mở phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải. Tuy nhiên, nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

  • Nguyên đơn bà Lý Thị Y vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông A phải trả lại lối đi theo chỉ giới xác định do Tòa án đã xác định, yêu cầu bồi thường thiệt hại số cam là 25.000.000 đồng và hủy GCNQSDĐ số AO 425111 do UBND huyện B cấp cho hộ ông Lý Văn A, bà Bàn Thị L2 ngày 18/7/2008.
  • Bị đơn không chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung:

Căn cứ Luật đất đai năm 2003; Điều 101, 166 và Điều 203 Luật Đất đai; khoản 1 Điều 254 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26, 34 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 32 Luật tố tụng hành chính:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Thị Yên

Buộc ông Lý Văn A và bà Bàn Thị L phải dành cho bà Lý Thị Y một lối đi từ lô đất của Lý Văn A cho đến đất của bà Lý Thị Y. Tổng diện tích lối đi mà ông A, bà L phải dành cho bà Y là 166,6m² nằm trong tại thửa đất số 1199, tờ bản đồ số 1, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, CNQSDĐ số AN 425111 do UBND huyện B cấp ngày 18/72008 cho hộ ông Lý Văn A và bà Bàn Thị L.

Vị trí, tứ cận lối đi theo sơ đồ trích đo kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06 tháng 6 năm 2023 của Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện yêu cầu ông Lý Văn A bồi thường tài sản thiệt hại 25.000.000đ và yêu cầu về việc hủy CNQSDĐ số AN 425111 đối với thửa đất số 1199, tờ bản đồ số 1 do UBND huyện B cấp ngày 18/72008 cho hộ ông Lý Văn A và bà Bàn Thị L.

Án phí: Các đương sự phải chịu chi phí tố tụng và án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.] Về thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp lối đi, yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản và yêu cầu hủy quyết định cá biệt là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, căn cứ theo khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.

[1.2] Về tư cách tham gia tố tụng: Trong vụ án có bà Đặng Thị N2 là mẹ đẻ của nguyên đơn và bị đơn, quá trình giải quyết vụ án Tòa án xác định bà N2 là người làm chứng. Tuy nhiên, tại phiên tòa, qua quá trình giải quyết vụ án trên cơ sở các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ Hội đồng xét xử xác định lại bà N2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Quá trình giải quyết Tòa án đã tiến hành lấy lời khai, do vậy việc xác định lại tư cách tham gia tố tụng đối với bà N2 không ảnh hưởng đến quyền tham gia tố tụng của đương sự.

[2]Về nội dung:

[2.1] Về nguồn gốc lối đi đang tranh chấp

Lối đi các bên đang tranh chấp là đường đất có diện tích là 166,6m², do lối đi là đường đất đồi có độ dốc và ảnh hưởng bởi mưa bão, sói mòn nên chiều dài, chiều rộng lối đi có sự chênh lệch, kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/6/2023 xác định lối đi có chiều dài, chiều rộng theo các điểm sau:

  • Chiều dài một bên được xác định từ điểm 2-15 có chiều dài là 95.9m và bên còn lại được xác định từ điểm 3-14 có chiều dài là 104.57m.
  • Chiều rộng của lối đi được xác định bởi các điểm như sau:
Cạnh Chiều dài (m)
2-3 1.50
20-27 1.74
21-26 1.89
22-25 1.51
23-34 1.51
28-29 1.77

Nguyên đơn cho rằng đây là lối đi do nguyên đơn tự mở từ năm 1997, bị đơn khai đây là lối đi do bị đơn tự làm vào năm 1991 nằm trong phần diện tích đất thửa đất số 1199, tờ bản đồ 01 thuộc quyền sử dụng của bị đơn đã được cấp GCNQSDĐ năm 2008.

Căn cứ vào kết quả xác minh ngày 29/12/2022 tại UBND xã Q; kết quả xác minh ngày 08/12/2023 tại Phòng Tài nguyên Môi trường huyện B xác định bản đồ địa chính không thể hiện có con đường mòn đang có tranh chấp. Tại Văn bản số 184/UBND-TN&MT của UBND huyện B cung cấp: Ngày 18/12/2003 UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 2800/QĐ-UBND về việc phê duyệt thiết kế kỹ thuật - dự toán xây dựng bản đồ địa chính tỷ lệ 1/10.000 bằng không ảnh và lập hồ sơ địa chính khu vực đất lâm nghiệp, đồi núi chưa sử dụng phục vụ việc khai thác, sử dụng quỹ đất, phát triển kinh tế tỉnh Bắc Kạn. Theo đó các xã trên địa bàn huyện B đã được lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/10.000 bằng không ảnh và lập hồ sơ địa chính khu vực đất lâm nghiệp, đồi núi chưa sử dụng. Tại bản đồ đất lâm nghiệp năm 2004 xã Q không thể hiện lối đi trên thửa đất 1199 tờ bản đồ 01. Từ các căn cứ trên cho thấy bản đồ địa chính, bản đồ lâm nghiệp không thể hiện con đường mòn là lối đi hiện đang xảy ra tranh chấp.

Xác minh tại thôn N, Trưởng thôn cung cấp con đường được hình thành từ lâu trước đây nguyên đơn bà Y có ở trên khu đất sau đó đã chuyển ra ngoài nhưng vẫn sử dụng con đường đi để lại canh tác sản xuất.

Theo tài liệu do Tòa án thu thập, biên bản đối chất giữa nguyên đơn, bị đơn lập ngày 07/11/2023 và lời khai của những người chứng thì lối đi này được hình thành trước thời điểm bị đơn ông Lý Văn A được cấp GNCQSDĐ năm 2008.

Theo các tài liệu, chứng cứ Tòa án đã thu thập cho thấy bà Lý Thị Y các thửa đất nằm trong khe K, thôn N, xã Q. Cụ thể:

  • Thửa đất số 00 tờ bản đồ 00 diện tích 476,0m²; loại đất: Đất trồng cây hàng năm khác được UBND huyện B cấp GCNQSDĐ số AC 334504 ngày 27/12/2006.
  • Thửa đất số 00 tờ bản đồ số 00, diện tích 182,0m²; loại đất: Đất ở nông thôn được UBND huyện B cấp GCNQSDĐ số AC 463611 ngày 27/12/2006.
  • Năm 2013, bà Y cấp đổi GCNQSDĐ, hợp 02 thửa đất và cấp GCNQSDĐ số BQ 000485 cấp ngày 21/6/2013 có số thửa đất số 11, tờ bản đồ 10 có diện tích là 5786.7m² trong đó mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn là 182,0m².
  • Thửa số 1197, tờ bản đồ số 01 diện tích 14830m²; loại đất: đất rừng sản xuất được UBND huyện B cấp GCNQSDĐ số AO 425146 ngày 18/7/2008.

Như vậy, bà Y khai bà đã dựng nhà ở trên thửa đất số 11 tờ bản đồ số 10 và canh tác trồng cam, quýt tại vườn, đồi cam quýt trên diện tích đất cạnh nhà. Căn cứ kết quả xem xét thẩm định tại chỗ cho thấy rằng thửa đất ở nông thôn số 11, tờ

bản đồ số 10 của bà Y nằm phía bên trong cạnh vườn cam quýt của bà Y do vậy việc bà Y mở đường, cải tạo, mở rộng đường để đi lại sinh hoạt vào nhà từ những năm 1997 là có căn cứ.

Mặt khác, khi chưa xảy ra tranh chấp bà Y vẫn đi lại bằng lối đi hiện nay đang tranh chấp nhưng bị đơn ông A không có ý kiến gì và cùng sử dụng chung. Khi có mẫu thuẫn xảy ra ông A đã rào chắn lại lối đi này không cho bà Y đi lại. Việc ông A rào chắn lối đi này lại bà Y không có lối đi để vào đồi cam, quýt canh tác. Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/02/2023 và tại phiên toà, ông A cũng thừa nhận ngoài con đường đi qua đất của ông A ra bà Y không có con đường nào khác để đi vào đồi, vườn cam, quýt của bà Y. Lời khai của ông A phù hợp với kết quả xác minh của Tòa án tại UBND xã Q cho thấy ngoài con đường đi qua đất của ông A ra bà Y không có con đường nào khác để đi vào đồi, vườn cam, quýt của bà Y. Tại biên bản đối chất ngày 07/11/2023 tại Tòa án ông A cho rằng trước đây có 01 con đường đi vào thửa đất của bà Y, hiện nay thuộc thửa đất của anh Đàm Văn S ông A cho rằng bà Y vẫn có thể sử dụng con đường này để đi lại, Tòa án tiến hành xác minh nội dung này tại gia đình ông Đàm Văn S và vợ là bà Đặng Thị K2 cho thấy cho dù bà Y có đi qua phần đất của gia đình ông S cũng chỉ đi được một đoạn sau đó nối vào đất của ông A là phần đất hiện đang tranh chấp lối đi thì mới vào đến thửa đất trồng cam, quýt của bà Y. Hơn nữa, bà Y khai sau khi làm con đường từ năm1997, bà chỉ sử dụng con đường này để đi lại, không có con đường nào khác.

Ngày 06/6/2023 Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, kết quả cho thấy thửa đất số 11 và 1197 của bà Y bị bao bọc bởi các thửa đất lâm nghiệp của các hộ khác, lối đi đang tranh chấp là con đường duy nhất để bà Y đi lại canh tác và thông ra đường dân sinh liên thôn của thôn N, xã Q. Bị đơn và những người làm chứng cũng thừa nhận đây là lối đi duy nhất để bà Y đi ra đường dân sinh.

Theo Điều 254 Bộ luật dân sự 2015 (Quyền về lối đi qua) quy định: “Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ”.

Hội đồng xét xử nhận định: Lối đi hai bên tranh chấp thực tế được bà Y sử dụng từ năm 1997 khi bà Y dựng nhà để ở và sinh sống canh tác tại thửa đất số 11, tờ bản đồ 10 và thửa đất số 1197, tờ bản đồ số 1, lối đi này lúc đó là con đường mòn tự mở, đến năm 2008 ông Lý Văn A đã được cấp GCNQSDĐ tại thửa 1199, tờ bản đồ số 1 bao gồm cả phần đất là lối đi hiện nay đang tranh chấp. Do vậy việc ông A được cấp GCNQSDĐ sau khi lối đi đã được hình thành và sử dụng do vậy yêu cầu của nguyên đơn buộc ông A phải trả lại lối đi là có căn cứ.

[2.2] Xét yêu cầu hủy GCNQSDĐ số AO 425111 đối với thửa đất số 1199, tờ bản đồ 01 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 18/7/2008 cho hộ ông Lý Văn A và bà Bàn Thị L, địa chỉ thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

[2.3.1] Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp GCNQSDĐ:

Về thẩm quyền: Đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 52 Luật đất đai 2003.

Về trình tự, thủ tục: Đã thực hiện đúng theo Điều 123 Luật Đất đai năm 2003 và Điều 135 Nghị định số 181/2024/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.

[2.3.2] Về nội dung: Qua hồ sơ do UBND huyện B và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B cung cấp cho Tòa án thấy:

Ngày 18/10/2007, hộ gia đình ông A được giao thửa 1199 khoảnh 2 tiểu khu 338 thuộc tờ bản đồ số 01 tại khu K, thôn N, xã Q, huyện B,tỉnh Bắc Kạn với tổng diện tích là 14.334m²; loại đất lâm nghiệp RinS; trạng thái rừng IIb kèm theo trích lục hình thể đất lâm nghiệp đo đạc ngày 10/5/2004. Cùng ngày 18/10/2007, ông Lý Văn A có Đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1199, tờ bản đồ 01 tại khu K, thôn N, diện tích xin cấp GCNQSDĐ là 14.334m²; mục đích sử dụng đất: sản xuất; nguồn gốc đất: Đất giao không thu tiền, tự khai phá. Ngày 29/11/2007, UBND xã Q đã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch. Trong phần ý kiến của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B ngày 10/12/2007 xác nhận: Hồ sơ đầy đủ, đúng quy định; ranh giới rõ ràng, ổn định, không tranh chấp, phù hợp với quy hoạch; đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận. Ngày 18/7/2008, UBND huyện B ban hành Quyết định số 858/QQĐ-UBND về việc phê duyệt giao đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại xã Q trong đó hộ ông Lý Văn A được cấp GCNQSDĐ 03 thửa, có thửa số 1199 diện tích 14.334m².

Xét thấy, Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Lý Văn A của nguyên đơn: Xét thấy UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 2800/QĐ-UBND về việc phê duyệt thiết kế kỹ thuật - dự toán xây dựng bản đồ địa chính tỷ lệ 1/10.000 bằng không ảnh và lập hồ sơ địa chính khu vực đất lâm nghiệp, đồi núi chưa sử dụng phục vụ việc khai thác, sử dụng quỹ đất, phát triển kinh tế tỉnh Bắc Kạn. Theo đó các xã trên địa bàn huyện B đã được lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/10.000 bằng không ảnh và lập hồ sơ địa chính khu vực đất lâm nghiệp, đồi núi chưa sử dụng.Tháng 10/2007 hộ ông Lý Văn A đã thực hiện kê khai đơn xin cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 1199 tờ bản đồ 01, diện tích 14.334m². Đơn xin cấp GCNQSDĐ của ông Lý Văn A đã được UBND xã Q thẩm tra, xác nhận thửa đất số 1199 tờ bản đồ số 01 do ông Lý Văn A xin cấp GCNQSDĐ là phù hợp với quy hoạch, không có tranh chấp. Trình tự, thủ tục, căn cứ cấp GCNQSDĐ của ông Lý Văn A là đầy đủ, công khai, minh bạch đúng theo quy định của Luật Đất đai năm 2003. Mặt khác về quá trình sử dụng đất: Ông Lý Văn A sử dụng thửa đất ổn định, liên tục không có tranh chấp. Do vậy việc cấp GCNQSDĐ cho ông A là đúng trình tự, thủ tục. Hơn nữa trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chỉ có yêu cầu ông A tháo rỡ hàng rào, trả lại lối đi, không có yêu cầu công nhận lối đi trên; Do đã buộc ông A phải dành cho bà Lý Thị Y một lối đi từ lô đất của Lý Văn A cho đến đất của bà Lý Thị Y. Xét thấy không cần thiết phải hủy CNQSDĐ số AN 425111 đối với thửa đất số 1199, tờ

bản đồ số 1 do UBND huyện B cấp ngày 18/72008 cho hộ ông Lý Văn A và bà Bàn Thị L.

HĐXX xét thấy mặc dù việc cấp CNQSDĐ đã cấp cho hộ ông A, bà L đối với thửa đất số 1199, tờ bản đồ 01 do Ủy ban nhân dân huyện B có ảnh hưởng đến việc đi lại của gia đình bà Y nhưng có thể khắc phục bằng chỉnh lý biến động đất đai theo quy định tại Điều 133 Luật Đất đai năm 2024; Điều 37 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ; Điều 13 của Thông tư số 10/2024/TT-BTNMT ngày 31/7/2024 của Bộ T1. do đó HĐXX thấy không cần thiết phải hủy GCNQSDĐ mà yêu cầu các đương sự và kiến nghị UBND huyện B chỉnh lý biến động đăng ký đất đai là phù hợp.

[2.3] Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản là số lượng hơn một tấn cam của bị Y bị hỏng do không vận chuyển đi bán được với tổng số tiền là 25.000.000 đồng.

Nguyên đơn cho rằng do bị đơn ông A rào chắn đường đi lại nên vào thời gian tháng 01 năm 2022 nên nguyên đơn bà Y không thể vận chuyển số cam đã thu hoạch được để mang đi bán với số lượng cam là hơn một tấn, theo đơn giá nguyên đơn tự xác định thời điểm tháng 01 năm 2022 là 25.000 đồng/1kg. Do vậy nguyên đơn yêu cầu ông A phải bồi thường số cam mà nguyên đơn không mang đi bán được với tổng số tiền là 25.000.000₫ (Hai mươi năm triệu đồng).

Kết quả xác minh tại thôn N và tại UBND xã Q cho thấy UBND xã không nhận được đơn hay tin báo việc bà Y không vận chuyển được số cam ra ngoài để bán, ngoài ra Tòa án tiến hành xác minh đơn giá cam tại địa phương cho thấy tại thời điểm vụ cam năm 2022 giá cam tại địa phương giao động từ 8000 đồng đến 10.000 đồng/1 kg, thời điểm thu hoạch từ tháng 12 âm lịch đến hết ngày 15/0/2022 âm lịch. Ngoài ra những người làm chứng chị T và anh K1 khai năm 2022 bà Y có thuê vợ chồng chị T anh K1 đến thu hoạch cam, khi thu hoạch xong đến chiều chở cam ra thì thấy có 01 cây nứa chắn ngang đường, sau đó anh Triệu Văn K1 đã dắt xe máy đi qua và để lại số cam đã thu hoạch được nhưng sau đó bà Y đã vác số cam thu hoạch được qua rào chắn để mang ra ngoài.

Như vậy việc bà Y xác định số lượng cam là hơn một tấn bà Y không mang đi bán được và theo đơn giá tại thời điểm tháng 01 năm 2022 là 25.000 đồng/ 1kg là do bà Y tự xác định và không có căn cứ chứng minh số cam hơn 01 tấn của bà Y bị hỏng.

Hội đồng xét xử nhận định: Yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản là số lượng hơn một tấn cam của bị Y bị hỏng do không vận chuyển đi bán được với tổng số tiền là 25.000.000 đồng là không có căn cứ.

Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu trả lại lối đi nên bị đơn ông Lý Văn A phải chịu toàn bộ tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 7.900.000 đồng. Ông A1 có trách nhiệm trả lại số tiền 7.900.000 đồng mà bà Y đã nộp trước đó.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, vì vậy bị đơn phải

chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với phần yêu cầu bồi thường không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 26, 37, 144, 147, 157,158, 244, 271 và điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 29; Điều 133 Luật Đất đai năm 2024;

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Thị Y.

  1. Buộc ông Lý Văn A và bà Bàn Thị L phải tháo rỡ hàng rào, trả lại diện tích lối đi 166,6m² tại thửa đất số 1199 tờ bản đồ số 01 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 425111 cấp ngày 18/7/2008 của UBND huyện B tại khu N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

Lý Thị Y được sử dụng phần đất có diện tích là 166,6m² làm lối đi, cụ thể:

  • Chiều dài một bên được xác định từ điểm 2-15 có chiều dài là 95.9m và bên còn lại được xác định từ điểm 3-14 có chiều dài là 104.57m.
  • Chiều rộng của lối đi được xác định bởi các điểm như sau:
Cạnh Chiều dài (m)
2-3 1.50
20-27 1.74
21-26 1.89
22-25 1.51
23-34 1.51
28-29 1.77

(Theo mảnh trích đo địa chính lập ngày 19/10/2023 kèm theo bản án).

  1. Không chấp nhận yêu cầu về việc huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 425111 đối với thửa đất số 1199, tờ bản đồ số 1 do UBND huyện B cấp ngày 18/72008 cho hộ ông Lý Văn A và bà Bàn Thị L.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà Lý Thị Y, ông Lý Văn A, bà Bàn Thị L có trách nhiệm đến cơ quan quản lý đất đai đăng ký biến động đất đai đối

với thửa đất số 1199, tờ bản đồ 01 do UBND huyện B cấp ngày 18/72008 cho hộ ông Lý Văn A và bà Bàn Thị L.

Ủy ban nhân dân huyện B có trách nhiệm chỉnh lý lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AO 425111 đối với thửa đất số 1199, tờ bản đồ số 1 do UBND huyện B cấp ngày 18/72008 cho hộ ông Lý Văn A và bà Bàn Thị L, bổ sung vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần lối đi có diện 166,6m².

  1. Bác yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản là số lượng hơn một tấn cam của bị Y bị hỏng do không vận chuyển đi bán được với tổng số tiền là 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng).

Về chi phí tố tụng: Áp dụng Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Lý Văn A phải trả số tiền 7.900.000₫ (Bảy triệu chín trăm nghìn đồng) cho bà Lý Thị Y chi phí xem xét thẩm định tại chỗ bà Y đã chi trả.

Về nghĩa vụ chậm trả: “Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015”.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị đơn ông Lý Văn A phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn bà Lý Thị Y phải chịu 1.250.000đ (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ 925.000đ (Chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà bà Y đã nộp theo Biên lai thu số 0000566 ngày 12/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. Bà Y còn phải nộp 325.000₫ (Ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội
  • - VKSND tỉnh Bắc Kạn
  • - Các đương sự
  • - Cục THA tỉnh;
  • - Chi cục THADS huyện Bạch Thông;
  • - Lưu HCTР
  • - Lưu HSVA

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Doanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về tranh chấp lối đi, yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản và yêu cầu hủy gcnqsd đất.

  • Số bản án: 07/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi, yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản và yêu cầu hủy GCNQSD đất.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lý Thị Y - Lý Văn A tranh chấp lối đi và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger