|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2023/HS-ST
Ngày 06 - 11 - 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: ông Lê Lương Anh.
- Các Hội thẩm nhân dân: bà Lò Thị Quỳnh và ông Tòng Văn Loan.
- Thư ký phiên toà: ông Cầm Việt Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: ông Phạm Quốc Cảnh – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2023/TLST – HS, ngày 18 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXXST – HS, ngày 26 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Đèo Văn H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 21 tháng 8 năm 1997 tại thành phố S, tỉnh Sơn La. Cư trú tại tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Dân tộc: Thái. Quốc tịch: Việt Nam. Giới tính: Nam. Tôn giáo, đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Đèo Văn H1, sinh năm 1962 và bà Lò Thị P, sinh năm 1962, bị cáo chưa có vợ, con. Tiền sự: Không. Tiền án: bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 89/2019/HSST, ngày 20/9/2019 (chưa được xóa án tích). Nhân thân: Năm 2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xử phạt 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo bản án số 60/2016/HSST, ngày 21/4/2016 (đã được xóa án tích); bị Công an thành phố S xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác với mức phạt 2.500.000,đ vào ngày 25/8/2017 (bị cáo đã nộp phạt xong và đã hết thời hạn, đến nay được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2023 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Lò Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 18 tháng 01 năm 1999 tại thành phố S, tỉnh Sơn La. Cư trú tại bản P, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La; Trình độ học vấn: 11/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Dân tộc: Thái. Quốc tịch: Việt Nam. Giới tính: Nam. Tôn giáo, đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Lò Văn C (đã chết) và con bà Mùi Thị H2, sinh năm 1977, bị cáo có vợ là Lò Hương L, sinh năm 2001 và có 01 con sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bị quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng theo quyết định số 64/QĐ – TA, ngày 16/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2023 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 22 giờ 30 phút ngày 26/7/2023, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế ma túy Công an thành phố S làm nhiệm vụ ở khu vực tổ A, phường Q, thành phố S phát hiện có hai thanh niên đang đứng ven đường L có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính đối với hai người thanh niên trên, qua kiểm tra thì người thanh niên tên T tự giác lấy từ trong lòng bàn tay phải ra giao nộp một gói giấy bạc, bên trong có chứa hai viên nén đồng dạng màu hồng và khai nhận là ma túy hồng phiến vừa mua được của người thanh niên tên là H với giá 200.000,đ để mang về sử dụng. H cũng tự giác lấy từ trong lòng bàn tay phải ra giao nộp 1 tờ tiền có mệnh giá 200.000,đ và khai nhận đây là tiền có được do vừa bán ma túy hồng phiến cho T mà có. Cơ quan công an đã tiến hành niêm phong vật chứng và tạm giữ hành chính đối với các bị cáo.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (Một) gói giấy bạc, bên trong có chứa hai viên nén đồng dạng màu hồng nghi chất ma túy và 1 tờ tiền mệnh giá 200.000,đ.
Căn cứ vào lời khai của các bị cáo, Cơ quan điều tra cũng tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đèo Văn H, tại tổ A, phường Q, thành phố S nhưng không phát hiện, thu giữ thêm tài liệu, vật chứng gì.
Vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 27/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu gửi giám định vật chứng, kết quả: Bóc mở 01 phòng bì đựng vật chứng đã được niêm phong dán kín bên trong có 01 (Một) gói giấy bạc, mở ra bên trong có chứa hai viên nén đồng dạng màu hồng và 01 tờ tiền mệnh giá 200.000,đ. Tiến hành cân tịnh toàn bộ hai viên nén có khối lượng 0,19 gam, lấy 1 viên nén màu hồng có khối lượng 0,10 gam cho vào túi ni lon màu trắng làm mẫu gửi giám định ký hiệu T, còn lại 1 viên nén màu hồng có khối lượng 0,09 gam cho vào túi ni lon màu trắng làm mẫu lưu kho ký hiệu H.
Cùng ngày, cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố S tiến hành quyết định trưng cầu giám định số 219/QĐ – ĐCSKT – MT, trưng cầu Phòng PC 09 – Công an tỉnh S để giám định chất ma túy và tiến hành quyết định trưng cầu giám định số 221/QĐ – ĐCSKT – MT, trưng cầu Phòng PC 09 – Công an tỉnh S để giám định tiền với nội dung yêu cầu giám định là tờ tiền VNĐ gửi giám định số hiệu UO18995220 là tiền thật hay tiền giả?
Tại Kết luận giám định số 1833/KL - KTHS, ngày 28/7/2023 của Phòng K - Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu kí hiệu T gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,10 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,19 gam, loại Methamphetamine".
Tại Kết luận giám định số 1860/KL - KTHS, ngày 02/8/2023 của Phòng K - Công an tỉnh S kết luận: “Số tiền VNĐ gửi giám định là tiền thật”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Đèo Văn H và Lò Văn T khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 26/7/2023 bị cáo H đi bộ từ nhà tại tổ A, phường Q, thành phố S ra khu vực xưởng in, thuộc tổ A, phường Q, thành phố S để tìm mua ma túy về bán kiếm lời, đến nơi bị cáo H gặp một người thanh niên không quen biết đứng ở ven đường N, thuộc tổ A, qua trao đổi bị cáo H đã mua được của người thanh niên đó 01 gói ma túy đựng bằng giấy bạc, mở ra bên trong có 02 viên hồng phiến với giá 160.000,đ, sau khi mua được ma túy xong, bị cáo cầm gói ma túy đi bộ ra đường L, thuộc tổ A, phường Q để tìm người có nhu cầu mua ma túy thì bán để kiếm lời, khi bị cáo đang đứng một mình ở ven đường L thì có bị cáo T đến hỏi mua ma túy, qua trao đổi với nhau, bị cáo H đã bán gói ma túy vừa mua được cho bị cáo T với giá 200.000,đ, khi hai bị cáo vừa trao đổi mua bán ma túy với nhau xong thì bị cơ quan công an kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số: 515/CT - VKSTP, ngày 17/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố: Bị cáo Đèo Văn H về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Lò Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Đèo Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Áp dụng khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015:
- Xử phạt bị cáo Đèo Văn H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015:
- Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 15 đến 20 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm b, c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, b, c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì công văn công an thành phố S được niêm phong, bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + 01 mảnh giấy bạc + mẫu lưu kho ký hiệu H = 0,09 gam.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 phong bì công văn do công an thành phố S phát hành, bên trong phong bì có 200.000,đ (Hai trăm nghìn đồng).
Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Đèo Văn H và Lò Văn T nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội: Ngày 26/7/2023, Đèo Văn H đã có hành vi bán trái phép 0,19 gam Methamphetamine cho Lò Văn T để lấy 200.000,đ; Lò Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,19 gam Methamphetamine trong người với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang khu vực tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La.
Tại phiên tòa các bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội cũng như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:
- Lời khai nhận tội, bản tự khai của các bị cáo; Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 22 giờ 35 phút ngày 26/7/2023 tại tổ A, phường Q, thành phố S đối với Đèo Văn H và Lò Văn T cùng vật chứng thu giữ là 01 gói giấy bạc bên trong có chứa hai viên nén đồng dạng màu hồng có khối lượng 0,19 gam và 200.000,đ;
- Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 1833/KL - KTHS, ngày 28/7/2023 và Kết luận giám định số 1860/KL - KTHS, ngày 02/8/2023 của Phòng K - Công an tỉnh S và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đèo Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, thấy rằng:
Bị cáo Đèo Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng chất ma túy là 0,19 gam Methamphetamine với giá 200.000,đ, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm; Bị cáo Lò Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng chất ma túy là 0,19 gam Methamphetamine, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và đều thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất tình hình trật tự an ninh xã hội tại địa phương, các bị cáo là người có đủ nhận thức về hành vi của mình và phạm tội với lỗi cố ý. Do đó cần nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo biện pháp cải tạo giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo.
Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu. Bị cáo H bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xử phạt 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo bản án số 60/2016/HSST, ngày 21/4/2016 (đã được xóa án tích); bị Công an thành phố S xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác với mức phạt 2.500.000,đ vào ngày 25/8/2017 (bị cáo đã nộp phạt xong và đã hết thời hạn, được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính). Bị cáo T bị quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng theo quyết định số 64/QĐ – TA, ngày 16/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo H có 1 tiền án, bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 89/2019/HSST, ngày 20/9/2019, bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 29/4/2023, chưa được xóa án tích theo quy định tại điều 70 Bộ luật Hình sự nay lại tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự, do đó cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt để thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước.
[4] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền):
- Các bị cáo không có công việc ổn định thường xuyên, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Vật chứng vụ án:
- Đối với 0,09 gam Heroine còn lại là chất ma túy bị pháp luật Nhà nước cấm mua bán, vận chuyển, tàng trữ và 01 phong bì niêm phong khi bắt quả tang + một mảnh giấy bạc, là vật không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Đối với số tiền 200.000,₫ (Hai trăm ngàn đồng) thu giữ của bị cáo H, đây là số tiền do phạm tội mà có do đó cần tịch thu để sung công quỹ Nhà nước.
[6] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo H, do bị cáo không biết tên, không biết tuổi, họ tên, địa chỉ của người đàn ông này. Ngoài lời khai của bị cáo H ra không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh do vậy không đủ căn cứ để điều tra mở rộng vụ án.
[7] Về án phí: Do hành vi phạm tội của mình nên cần buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; khoản 1 điều 53; điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Đèo Văn H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Đèo Văn H 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2023.
Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2023.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) chiếc phong bì công văn do Công an thành phố S phát hành, còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì ghi dòng chữ: “Vật chứng vụ Đèo Văn H, Lò Văn T – Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 26/7/2023. Gồm có: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; Một mảnh giấy bạc; Mẫu lưu kho ký hiệu H = 0,09 gam”, mặt sau tại mép giáp lai được dán giấy niêm phong, được đóng dấu tròn đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố S và có chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (Một) chiếc phong bì công văn do Công an thành phố S phát hành, còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì ghi dòng chữ: “Vật chứng vụ Đèo Văn H, Lò Văn T – Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy. Gồm có: Tiền VNĐ 200.000,₫ (Hai trăm ngàn đồng)”, mặt sau tại mép giáp lai được dán giấy niêm phong, được đóng dấu tròn đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố S và có chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/10/2023 giữa Công an thành phố S, tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Đèo Văn H và Lò Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000,₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo Đèo Văn H và Lò Văn T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06/11/2023)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lê Lương Anh |
Bản án số 07/2023/HS-ST ngày 06/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 07/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đèo Văn H và Lò Thị T - Phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
