Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN H

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

________________

Bản án số: 07/2021/KDTM-ST

Ngày: 13/4/2021

“V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

_________________________

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H – THÀNH PHỐ HÀ NỘI.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Phương.

Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Sơn Hóa.
  • Nguyễn Thị Lan.

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Huệ – Thư ký Tòa án.

Đại diện VKSND quận H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở, Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 52/2020/TLST-KDTM ngày 05 tháng 8 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/QĐXX ngày 09 tháng 3 năm 2021; quyết định hoãn phiên tòa số 22 ngày 25/3/2021; về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V

Địa chỉ: Số 89 Láng H, phường Láng H, quận Đ, Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn A – Phó Giám đốc Trung tâm xử lý nợ pháp lý theo văn bản ủy quyền số 11/2018/UQ-HĐQT ngày 02/3/2018.

- Ông Phạm Tuấn A ủy quyền lại cho ông Đào Văn Linh theo văn bản ủy quyền số 1911/UQ-VPB ngày 01/7/2020. (Ông Đào Văn Linh có mặt).

* Bị đơn: Công ty TNHH nội thất và quảng cáo T;

Địa chỉ trụ sở: Số 22, ngách 96, ngõ 245 Đ, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Duy T – Giám đốc - vắng mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Duy T, sinh năm 1980;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Hạ, xã A, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản tố tụng khác, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V trình bày:

Theo hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng 245-C-850504 ngày 25/9/2017 với hạn mức của thẻ tín dụng là 50.000.000đ, đã sử dụng thẻ 33.373.889đ, Hợp đồng cho vay hạn mức số 130917-3535280-01-SME ngày 18/9/2017 với hạn mức tín dụng là 500.000.000đ, đã giải ngân được 151.025.765 đ và khế ước nhận nợ kèm theo, công ty T (địa chỉ trụ sở chính tại: Số 22, ngách 90, ngõ 245 Đ, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội), đại diện là ông Phan Duy T – chức vụ: Giám đốc vay vốn của Ngân hàng – chi nhánh Đ. Ngân hàng đã giải ngân của hai khoản tín dụng trên với tổng số tiền là 201.025.765 đồng.

Biện pháp bảo đảm cho khoản vay nói trên là: Theo các Hợp đồng bảo lãnh: Số 130917-3535280-01-SME/HĐBL ngày 18/9/2017, số 290818/HĐBL ngày 29/8/2017, bên bảo lãnh là ông Phan Duy T đã đồng ý, bằng toàn bộ tài sản của mình bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho bên được bảo lãnh là Công ty T trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ phát sinh từ Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng 245-C-850504 ngày 25/9/2017; Hợp đồng cho vay hạn mức số 130917-3535280-01-SME ngày 18/9/2017 và các hợp đồng văn bản tín dụng khác ký giữa Công ty T và Ngân hàng bao gồm cả các phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung, các khế ước nhận nợ và văn bản liên quan.

Quá trình thực hiện hợp đồng: Công ty T đã vi phạm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng kể từ ngày 25/12/2017 đối với hợp đồng tín dụng và vi phạm đối với thẻ tín dụng kể từ ngày 24/11/2017. Do đó, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn với mức lãi suất quá hạn theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ. Tạm tính đến ngày 31/10/2019, công ty T còn nợ Ngân hàng số tiền như sau: Nợ gốc còn lại 126.025.765 đồng; Nợ lãi và phạt chậm trả: 73.892.112 đồng; Nợ khoản thẻ: 50.000.000đ (gồm cả nợ gốc và lãi). Tổng cộng: 249.917.877 đồng.

Nay ngân hàng đề nghị Tòa án: Căn cứ vào Điều 342, Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, các tài liệu chứng cứ kèm theo: Buộc công ty T phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và các khoản phát sinh liên quan theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên, tạm tính đến ngày 31/10/2019, số tiền là: Nợ gốc 126.025.765 đồng; Nợ lãi: 66.023.306 đồng; Nợ khoản thẻ: 50.000.000 đồng. Tổng cộng là 242.049.071 đồng. Đối với khoản phạt chậm trả lãi Ngân hàng không yêu cầu Công ty TNHH nội thất và quảng cáo T phải thanh toán.

Nếu Công ty TNHH nội thất và quảng cáo T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng, đề nghị Tòa án buộc ông Phan Duy T có nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty TNHH nội thất và quảng cáo T toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, và các khoản phát sinh liên quan theo hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã nêu trong đơn khởi kiện.

Tòa án tiếp tục tính lãi theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ nêu trên cho đến ngày Công ty TNHH nội thất và quảng cáo T thực tế thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.

Trong trường hợp Công ty TNHH nội thất và quảng cáo T thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng, ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành xác minh, kê biên, thu giữ, phát mại tài thuộc quyền sở hữu/ sử dụng của Công ty TNHH nội thất và quảng cáo T và ông Phan Duy T để thu hồi khoản nợ.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Đại diện nguyên đơn Ngân hàng TMCP V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, tính đến ngày 13/4/2021, buộc Công ty TNHH nội thất và quảng cáo T thanh toán cho Ngân hàng số tiền như sau: Nợ gốc của hợp đồng tín dụng; 126.025.765 đồng; Nợ lãi: 140.337.934đ (trong đó lãi trong hạn 2.313.996đ; lãi quá hạn 138.023.938đ); Nợ gốc của khoản thẻ quốc tế là: 33.373.889 đồng, nợ lãi 43.384.329đ. Tổng cộng của hai khoản vay là 343.121.917đ (Ba trăm bốn mươi ba triệu một trăm hai mươi mốt nghìn chín trăm mười bảy đồng).

- Đại diện VKSND quận H tham gia phiên tòa, phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm và việc tuân theo pháp luật của các đương sự; Đồng thời đề xuất hướng giải quyết vụ án như sau: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn khoản tiền nợ gốc, tiền lãi tổng cộng là 343.121.917đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa. Sau phần hỏi và tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

{1} Về tố tụng: Ngân hàng TMCP V khởi kiện Công ty TNHH nội thất và quảng cáo T theo Hợp đồng tín dụng số 130917-3535280-01-SME không có tài sản đảm bảo ngày 18/9/2017; Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản đảm bảo ngày 29/8/2017. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận H theo quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

{2} Về nội dung vụ án:

{2.1}. Về hình thức của hợp đồng: Hội đồng xét xử nhận thấy các hợp đồng tín dụng và bảo lãnh được ký kết hoàn toàn tự nguyện, đáp ứng đủ điều kiện chủ thể và phù hợp với quy định pháp luật.

{2.2} Quá trình thực hiện Hợp đồng: Công ty TNHH nội thất và quảng cáo T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Việc Ngân hàng chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn là đúng thỏa thuận và quy định pháp luật.

{2.3} Về nghĩa vụ bảo lãnh: Ông Phan Duy T đồng ý dùng toàn bộ tài sản của mình bảo lãnh vô điều kiện cho Công ty T. Điều khoản này có hiệu lực thi hành.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ Điều 342, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Căn cứ khoản 1 Điều 157 Luật Doanh nghiệp.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V

    Buộc Công ty TNHH nội thất và quảng cáo T phải trả Ngân hàng TMCP V các khoản tiền tính đến ngày 13/4/2021, cụ thể: Nợ gốc của hợp đồng tín dụng: 126.025.765 đồng; Nợ lãi: 140.337.934đ; Nợ gốc của khoản thẻ quốc tế: 33.373.889 đồng, nợ lãi 43.384.329đ. Tổng cộng của hai khoản vay là 343.121.917đ (Ba trăm bốn mươi ba triệu một trăm hai mươi mốt nghìn chín trăm mười bảy đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bên phải thi hành án phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

  2. Về án phí:

    Công ty TNHH nội thất và quảng cáo T phải chịu án phí Kinh doanh sơ thẩm là 17.156.096đ.

    Trả lại Ngân hàng TMCP V 6.247.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0005835 ngày 05/8/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận H, Thành phố Hà Nội.

  3. Về quyền kháng cáo:

    Ngân hàng TMCP V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Công ty TNHH nội thất và quảng cáo T và ông Phan Duy T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

- TAND Thành phố Hà Nội;

- VKSND quận H;

- Chi cục THA dân sự quận H;

- Đương sự;

- Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2021/KDTM-ST ngày 13/04/2021 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 07/2021/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/04/2021
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: KDTMST
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger