Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CAO BẰNG

Bản án số: 07/2021/HNGĐ-PT

Ngày: 13-7-2021

V/v ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Hà Nam

Các Thẩm phán: Ông Ngôn Ngọc Viên, Bà Nguyễn Thị Như

- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Hữu Duy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Chinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 7 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2021/TLPT-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2021 về việc ly hôn.

Do Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 05/2021/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 58/2021/QĐ-PT ngày 02 tháng 7 năm 2021 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị A; Sinh năm 1967; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Xóm 8 C, thị trấn D, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Có mặt
  • - Bị đơn: Ông Trần Văn B; Sinh năm 1965; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Xóm 8 C, thị trấn D, huyện Đ, tỉnh Cao Bằng. Có mặt
  • - Người kháng cáo: Bị đơn Trần Văn B

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/11/2020 và trong quá trình giải quyết, xét xử nguyên đơn bà Hoàng Thị A trình bày:

- Về hôn nhân: Bà và ông Trần Văn B, trước đây đã ly hôn vào năm 1997, đã giải quyết các vấn đề liên quan như con chung và tài sản chung. Đến năm 2003 hai vợ chồng quay lại chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 24/11/2006 tại Ủy ban nhân dân xã C (Nay là thị trấn D), huyện Đ.

Về quá trình chung sống: Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống chung tại xóm 8 C, thị trấn D, huyện Đ, Cao Bằng. Hai vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc và sinh được một người con là Trần Hoàng G. Đến khoảng 03 năm trở lại đây thì hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông B thường xuyên có hành vi chửi mắng, đánh đập đuổi bà cùng con ra khỏi nhà khi bà và con không làm việc đúng ý của ông B, ngoài ra trong cuộc sống hằng ngày vợ chồng có phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Sự việc đã được xóm, gia đình và hai vợ chồng hòa giải nhiều lần nhưng không được, hiện nay mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên bà quyết định làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông B.

Về con chung: Bà và ông B có 02 (Hai) con chung là Hoàng Trần E, sinh ngày 10/12/1993 và Trần Hoàng G, sinh ngày 29/12/2006. Hiện nay, cháu Bình đã thành niên nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Trần Hoàng G, bà yêu cầu được là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con chung thì bà yêu cầu ông B phải cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền 600.000đ/tháng đến khi con chung đủ 20 tuổi vì cháu Đạt bị bệnh chậm phát triển về trí tuệ.

Về tài sản chung, vay nợ chung: Hai vợ chồng có tài sản chung nhưng bà không yêu cầu Tòa án giải quyết phần tài sản trong vụ án này, mà sẽ khởi kiện để giải quyết trong vụ án khác. Vợ chồng không có vay nợ chung.

* Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trần Văn B trình bày:

Về thời gian và điều kiện kết hôn, ông B thừa nhận đúng như Bà A đã trình bày. Về quá trình chung sống vợ chồng: Kết hôn lần đầu năm 1988, năm 1994 làm thủ tục ly hôn tại Tòa án theo yêu cầu của Bà A. Đến năm 2004 quay lại sống chung với nhau, sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống chung với nhau hạnh phúc, cuộc sống vợ chồng cũng có mâu thuẫn nhưng chưa đến mức trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vấn đề sinh lý vợ chồng trong cuộc sống hằng ngày. Hai vợ chồng đã hòa giải nhiều lần, nay ông không nhất trí với yêu cầu ly hôn của Bà A vì ông thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn.

Về con chung: Ông thừa nhận đúng như Bà A đã trình bày. Trong trường hợp phải ly hôn, thì ông yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Trần Hoàng G và ông không yêu cầu Bà A phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung.

Về tài sản chung, vay nợ chung: Ông xác nhận hai vợ chồng có tài sản chung, có vay nợ chung và ông không nhất trí với yêu cầu của Bà A là tách phần tài sản để giải quyết thành một vụ án khác mà ông yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Hoàng Thị A kết hôn với ông Trần Văn B... Nay Bà A khởi kiện xin ly hôn với ông B, nên quan hệ pháp luật được xác định là tranh chấp “Ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng...

[2] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo được gửi trong thời hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Như vậy đơn kháng cáo hợp pháp...

[3] Xét yêu cầu kháng cáo và căn cứ kháng cáo: Qua quá trình nghiên cứu hồ sơ... HĐXX phúc thẩm nhận thấy Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu ly hôn của Bà A đối ông B là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật...

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 308, Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 148, Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH...

Bác đơn kháng cáo của ông Trần Văn B, giữ nguyên bản án Hôn nhân gia đình số 05/2021/HNGĐ-ST ngày 26/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Hoàng Thị A được ly hôn với ông Trần Văn B.
  2. Về con chung: Giao con chung là Trần Hoàng G, sinh ngày 29/12/2006 cho bà Hoàng Thị A là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ tuổi thành niên (18 tuổi). Ông B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 600.000đ.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà A và ông B đều xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết trong cùng vụ án này.
  4. Về án phí: Bà Hoàng Thị A phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm (đã nộp). Ông Trần Văn B phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh CB;
  • - CCTHADS huyện Hòa An;
  • - TAND huyện Hòa An;
  • - Các bên đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nông Hà Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2021/HNGĐ-PT ngày 13/07/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng về ly hôn

  • Số bản án: 07/2021/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/07/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Hoàng Thị A và ông Trần Văn B, trước đây đã ly hôn vào năm 1997, đã giải quyết các vấn đề liên quan như con chung và tài sản chung. Đến năm 2003 hai vợ chồng quay lại chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 24/11/2006 tại Ủy ban nhân dân xã C (Nay là thị trấn D), huyện Đ. Về quá trình chung sống: Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống chung tại xóm 8 C, thị trấn D, huyện Đ, Cao Bằng. Hai vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc và sinh được một người con là Trần Hoàng G. Đến khoảng 03 năm trở lại đây thì hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông B thường xuyên có hành vi chửi mắng, đánh đập đuổi bà cùng con ra khỏi nhà khi bà và con không làm việc đúng ý của ông B, ngoài ra trong cuộc sống hằng ngày vợ chồng có phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Sự việc đã được xóm, gia đình và hai vợ chồng hòa giải nhiều lần nhưng không được, hiện nay mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên bà quyết định làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger