Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK


Bản án số: 07/2021/HC-PT
Ngày: 20/9/2021
V/v Kiện thông báo nộp tiền sử dụng đất và công văn trả lời kiến nghị
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng.

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thanh Huyền, ông Nguyễn Duy Thuấn

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Ái Vân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Ông Nguyễn Văn Ban - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 20/9/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính phúc thẩm thụ lý số: 03/2021/TLPT-HC ngày 16/7/2021, về việc “Kiện thông báo nộp tiền sử dụng đất và công văn trả lời kiến nghị”. Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 02/2021/HC-ST ngày 31/05/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 58/2021/QĐPT-HC ngày 17/8/2021, giữa:

1. Người khởi kiện: Ông Bùi Đình C; địa chỉ: Số 291/37 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Đỗ Anh T; địa chỉ: Số 06, liên gia 31, Buôn Đ, xã C, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk (Có đơn xin xét xử vắng mặt). (Văn bản ủy quyền ngày 25/5/2020)

2. Người bị kiện:

2.1 Chi cục Thuế thành phố B; Địa chỉ: Số 90 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

2.2 Chi cục trưởng Chi cục Thuế thành phố B

Người đại diện theo ủy quyền của Chi cục Thuế thành phố B và Chi cục trưởng Chi cục Thuế thành phố B: Ông Phạm Thái V- Chức vụ: Phó chi cục trưởng (Có đơn xin xét xử vắng mặt). (Văn bản ủy quyền ngày 28/5/2020 và ngày 16/10/2020)

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Nguyễn Thị T; địa chỉ: Số 291/37 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

3.2. Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tấn L; địa chỉ: Số 27 T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk. (Có đơn xin xét xử vắng mặt). (Văn bản ủy quyền ngày 26/10/2020)

4. Người kháng cáo: Người khởi kiện ông Bùi Đình C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Đỗ Anh T trình bày:

Năm 1994 ông Bùi Đình C nhận chuyển nhượng của bà Đỗ Thị H, diện tích đất 1.000m2 (theo số đo thực tế để làm GCNQSDĐ là 934m2), thuộc thửa đất số: 37, tờ bản đồ: 52, tại TDP 6, phường T, TP.B. Ông C làm nhà ở và sử dụng ổn định từ đó cho đến nay. Năm 2007, gia đình ông C kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Chi cục Thuế thành phố B ban hành thông báo (không số) ngày 24/12/2008, v/v: Thông báo nộp tiền sử dụng đất với số tiền là: 112.800.000 đồng/300m2 đất ở (cho rằng hộ ông C phải nộp 100%).

Ông C cho rằng theo quy định tại khoản 6 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 và khoản 2 Điều 8 Nghị định số: 198/2004/NĐ-CP, hộ ông C chỉ thuộc đối tượng nộp 50% tiền sử dụng đất. Ngày 27/4/2020 Chi cục trưởng Chi cục Thuế thành phố B có Công văn trả lời số: 1087/CCT-TBTK, vẫn cho rằng hộ ông C thuộc diện phải nộp 100%. Do đó, ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hủy bỏ giá trị pháp lý đối với Công văn số 1087/CCT-TBTK và Thông báo ngày 24/12/2008.

* Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện, ông Phạm Thái V trình bày:

Căn cứ vào Phiếu chuyển thông tin địa chính mã số TL1674, nguồn gốc đất của ông C là sử dụng để ở sau 15/10/1993 từ đất nông nghiệp. Theo quy định tại Nghị định 198/2004/NĐ-CP, trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp nhận chuyển nhượng sang đất ở thì phải nộp tiền sử dụng đất bằng mức chênh lệch giữa giá đất ở với giá đất nông nghiệp. Chi cục Thuế đã xác định tiền sử dụng đất và ban hành thông báo là đúng quy định.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 02/2021/HC-ST ngày 31/05/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, đã Quyết định:

Không chấp nhận đơn khởi kiện của ông Bùi Đình C về việc yêu cầu tuyên hủy bỏ Công văn số: 1087/CCT-TBTK ngày 27/4/2020 và Thông báo ngày 24/12/2008.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về quyền khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

[2]. Về thời hiệu khởi kiện: Ông C khởi kiện trong thời hiệu quy định tại Điều 116 Luật tố tụng hành chính.

[3]. Xét nội dung: Nguồn gốc đất của ông C là đất nông nghiệp nhận chuyển nhượng năm 1994, bắt đầu sử dụng vào mục đích đất ở từ năm 1995 (sau ngày 15/10/1993). Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 8 và điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị định 198/2004/NĐ-CP, Chi cục Thuế thành phố B xác định mức thu chênh lệch 100% là đúng quy định pháp luật. Kháng cáo của ông C cho rằng chỉ nộp 50% là không có cơ sở.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015; Không chấp nhận kháng cáo của ông Bùi Đình C. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2021/HC-ST ngày 31/05/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
  2. Về án phí: Miễn án phí hành chính phúc thẩm cho ông Bùi Đình C do là người cao tuổi.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND Tp. Buôn Ma Thuột;
- Chi cục THADS Tp. B;
- Đương sự;
- Cổng thông tin điện tử TA;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




(Đã ký)

Nguyễn Thị Hằng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2021/HC-PT ngày 20/09/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về kiện thông báo nộp tiền sử dụng đất và công văn trả lời kiến nghị

  • Số bản án: 07/2021/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Kiện thông báo nộp tiền sử dụng đất và công văn trả lời kiến nghị
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2021
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Năm 1994 ông Bùi Đình C nhận chuyển nhượng của bà Đỗ Thị H, diện tích đất 1.000m2(theo số đo thực tế để làm GCNQSDĐ là 934m2), thuộc thửa đất số: 37, tờ bản đồ: 52, tại TDP 6, phường T, TP.B ...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger