|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 07/2021/DS-ST Ngày: 02 - 4 - 2021 V/v "Tranh chấp quyền sử dụng đất" |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệp
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Bút, Bà Lê Thị Trúc Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nghiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 18/2019/TLST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2019 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/QĐXXST-DS ngày 11.3.2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2019/QĐ-TA ngày 22.5.2019 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Trần L, sinh năm: 1962; địa chỉ: Tổ 2 thôn T, xã H, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1938; địa chỉ: Tổ 2 thôn T, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị H, sinh năm 1964; địa chỉ: Tổ 2 thôn T, xã H, huyện Hòa Vang, Tp Đà Nẵng.
- Bà Trần Thị V, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ 2 thôn T, xã H, huyện Hòa Vang, Tp Đà Nẵng.
- Bà Trần Thị T, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ 2 thôn T, xã H, huyện Hòa Vang, Tp Đà Nẵng.
- Ông Trần Thanh T, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ 2 thôn T, xã H, huyện Hòa Vang, Tp Đà Nẵng.
- Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1977
- Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1956
- Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1960
- Ông Nguyễn N, sinh năm 1969
- Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1964
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1968
- Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1974
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1976
- Ông Võ Hoàng Đ, sinh năm 1982 và bà Trần Thị L, sinh năm 1984
- Bà Phan Thị H, sinh năm 1974
- Ông Cao Hồng T, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972
Người đại diện theo ủy quyền của bà H, bà V, bà T, ông T: Ông Trần L, sinh năm: 1962; địa chỉ: Tổ 2 thôn T, xã H, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
Địa chỉ: Tổ 2 thôn T, xã H, huyện Hòa Vang, Tp Đà Nẵng.
Địa chỉ: Tổ 2 thôn T, xã H, huyện Hòa Vang, Tp Đà Nẵng.
(Ông L có mặt; bà L, ông H, ông T, ông T, ông N, bà P, bà C, bà S, bà N, ông Đ, bà L, bà H, ông T, bà H vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trần L trình bày:
Thực hiện kê khai theo Nghị định 64/CP của Chính phủ, ông đã kê khai và ngày 05.3.1996 hộ gia đình ông được UBND huyện Hòa Vang cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H1, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: Y QSDĐ/84-QĐUB ngày 05.3.1996 tại thửa đất 1, tờ bản đồ 2, diện tích 2.588m2; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Hòa Vang, Tp Đà Nẵng. Năm 2001 gia đình ông mới xây dựng nhà ở. Hộ của ông gồm có ông, vợ ông là bà Phạm Thị H và 03 con là Trần Thị V, Trần Thị T và Trần Thanh T. Nguồn gốc thửa đất trên là vào khoảng năm 1980, 1981 ông Nguyễn Xuân T (con bà Nguyễn Thị L) ở sau đó ông T chuyển sang chỗ khác. Đến năm 1984 ông làm đơn và được sự đồng ý của Đội trưởng Đội sản xuất 3 thôn T là ông Trần Công T nên năm 1985 qua rồi dựng nhà tranh vách đất để ở. Sau này ông được biết, thửa đất 115, tờ bản đồ 06, diện tích 2.588m2 do bà Lê Thị A và Đội sản xuất 3 thôn T kê khai theo Chỉ thị 299/TTg.
Vào năm 2002, ông Nguyễn D là chồng bà Nguyễn Thị L có qua nói chuyện và xin vợ chồng ông cho sản xuất trên một phần diện tích đất để trồng sả. Hiện là vị trí tranh chấp giữa ông và bà L. Tuy nhiên, đến nay bà L không trồng nữa.
Năm 2012, 2013, gia đình ông đã chuyển nhượng cho ông Võ Hoàng Đ, bà Trần Thị L diện tích 169 m2; chuyển nhượng cho bà Phan Thị H diện tích 175 m2; chuyển nhượng cho ông Cao Hồng T, bà Nguyễn Thị H diện tích 180 m2. Các hộ này được ông chuyển nhượng phần đất phía đông thửa đất, không liên quan đến phần đất tranh chấp giữa ông và bà L.
Đến tháng 5.2018 ông có nộp Đơn đề nghị Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Hòa Vang tách thửa để cho tặng một phần diện tích cho con. Theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 19.6.2018 thì diện tích còn lại là 1.676.5 m2, sau khi trừ đi diện tích chuyển nhượng và đường tự mở thì vẫn thiếu so với diện tích ông được cấp giấy chứng nhận. Gia đình bà L không ký biên bản đo đạc vì cho rằng phần đất khoảng 150 m2 mà hộ bà L trồng sả là của hộ bà L.
Theo Sơ đồ vị trí thửa đất ngày 31.10.2020 thì diện tích tranh chấp giữa ông và bà L là 113,7 m2 và Hội đồng định giá Nhà nước đã định giá là 61.398.000 đồng. Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị L trả lại phần diện tích 113,7 m2 đất tại thửa đất số 1, tờ bản đồ 2.
* Tại Biên bản lấy lời khai, bị đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
Bà và ông Nguyễn D có 08 người con. Chồng bà mất năm 2009. Ngày 05.3.1996 hộ ông Nguyễn D được UBND huyện Hòa Vang cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H2 tại thửa đất 2 tờ bản đồ số 1, diện tích 2.936 m2. Đã làm thủ tục tách thửa cho các con. Bà không đề nghị đo đạc thửa đất của bà mà chỉ biết diện tích đất khoảng 150 m2 tranh chấp với ông L là nhà bà trồng sả từ trước năm 1975. Bà sống ở trên thửa đất này từ nhỏ đến nay. Đối với yêu cầu của ông L, bà sẽ về bàn bạc với các con trong gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang. Bị đơn và những người liên quan vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.
[2] Về nội dung: Xét nguồn gốc đất, hộ ông Trần L được cấp GCNQSDĐ số H1 ngày 05.3.1996 đối với thửa đất số 1, tờ bản đồ số 2. Hộ bà Nguyễn Thị L (ông Nguyễn D) được cấp GCNQSDĐ số H2 ngày 05.3.1996 đối với thửa đất số 2, tờ bản đồ số 2. Qua xác minh, việc kê khai của hộ ông L phù hợp với thực tế sử dụng và hồ sơ 64/CP. Phần diện tích 113,7 m2 tranh chấp nằm trong ranh giới thửa đất đã cấp cho hộ ông L. Việc bà L cho rằng đất của bà trồng sả từ trước năm 1975 là không có cơ sở vững chắc so với hồ sơ địa chính chính thức.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 20, 33, 36 Luật đất đai năm 1993; các quy định của Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của ông Trần L đối với bà Nguyễn Thị L.
Buộc bà Nguyễn Thị L và các con (người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) có nghĩa vụ trả cho hộ ông Trần L diện tích đất 113,7 m2 tại thửa đất số 1 tờ bản đồ số 2, địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Tứ cận như sau:
- Đông: Giáp diện tích còn lại của thửa đất 115, dài 9.93 m.
- Tây: Giáp đất trống, dài 10.26 m.
- Bắc: Giáp diện tích còn lại của thửa đất 115, dài 10.84 m.
- Nam: Giáp đường tự mở, dài 11.72 m.
2. Về chi phí tố tụng: Ông Trần L tự nguyện chịu các chi phí xem xét thẩm định, đo đạc và định giá (tổng cộng 7.412.000 đồng).
3. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần L tự nguyện chịu 3.070.000 đồng án phí. Bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Diệp |
Bản án số 07/2021/DS-ST ngày 02/04/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 07/2021/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần L - Nguyễn Thị L
