|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN ________________ Bản án số: 07/2021/DS-PT Ngày: 16 tháng 3 năm 2021 "V/v: tranh chấp Hợp đồng vay tài sản" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ________________________________ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền,
Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hải Minh và Ông Trần Quốc Sơn.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Bùi Văn Đồng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Chung - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên toà xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 103/2020/TLPT-DS ngày 26 tháng 10 năm 2020, về việc "Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản". Do bản án dân sự số: 03/2020/DSST ngày 31/7/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Thái H, tỉnh Nghệ An bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An kháng nghị.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2021/QĐ-PT ngày 22/02/2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Bùi Thị Th, sinh năm 1965. Nơi ĐKHKTT: Xóm 8, xã Nghĩa Th, thị xã Thái H, tỉnh Nghệ An. Tạm trú: Xóm Đông H, xã Đông H, thị xã Thái H, tỉnh Nghệ An (có mặt).
- Ông Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1963. Nơi ĐKHKTT: Xóm Bình M, xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An. Tạm trú: Xóm Đông H, xã Đông H, thị xã Thái H, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Hữu Q và Bà Bùi Thị Th: Bà Trịnh Thị Hoài Th, sinh năm 1994. Trú tại: số nhà 9a, đường Nguyễn Tr, thành phố V, tỉnh nghệ An. Theo giấy ủy quyền lập ngày 10/12/2020, số công chứng 6519, quyển số 07/2020 tại Văn phòng công chứng Thái H, thị xã Thái H.
- Bị đơn:
- Bà Phùng Thị H, sinh năm 1959. Nơi ĐKHKTT: Khối Chế Biến Lâm Sản 2, phường Quang Ph, thị xã Thái H, tỉnh Nghệ An. Hiện đang chấp hành án tại đội 27, Phân trại số 5 – Trại giam Tân Lập – Cục CSQL Trại giam, CSGD bắt buộc, Trường giáo dưỡng (vắng mặt).
- Anh Hoàng T, sinh năm 1977. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khối Tân T, phường Hòa H, thị xã Thái H, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
Cơ quan kháng nghị: Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án Dân sự, vụ án có nội dung:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/8/2019 và bản tự khai ngày 09/9/2019, nguyên đơn bà Bùi Thị Th, ông Nguyễn Hữu Q trình bày:
Do có quen biết với anh Hoàng T nên anh T đã điện thoại cho bà hỏi cho anh T và bà H vay với số tiền 1.000.000.000đ (một tỷ đồng) để làm ăn. Nên ngày 08/5/2018 vợ chồng bà đã cho bà H, anh T vay với số tiền là 1.000.000.000đ (một tỷ đồng), hai bên viết giấy vay nợ hẹn đến ngày 28/5/2018 thì trả nợ gốc và lãi, khi vay các bên đều ký xác nhận. Mục đích anh T và bà H vay là để làm ăn. Trong giấy vay tiền không thỏa thuận tiền lãi nhưng hai bên thỏa thuận trả lãi bằng miệng là 3%/tháng. Lúc giao tiền vay thì bà giao tiền cho cả bà H và anh T. Khi nhận tiền thì bà H có mang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bìa xanh) và nói “Để em tin tưởng thì chị chuyển nhượng cho em thửa đất có giá 500.000.000đ, nếu sau này không có trả thì em được nhận đất” còn số tiền còn lại thì thanh toán bằng tiền mặt. Sau khi hết thời hạn vay bà đã nhiều lần đòi nhưng anh T, bà H không trả được. Sau đó bà H, anh T có thoả thuận với bà trả lãi hai tháng từ ngày 08/5/2018 đến ngày 08/7/2018, lãi suất 3%/tháng với số tiền 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) tiền lãi, số tiền này anh T là người trực tiếp trả cho bà hai lần, mỗi lần 30.000.000đ nhưng bà không nhớ thời gian anh T trả. Sau đó bà H đã trả tiếp cho bà số tiền 120.000.000đ tiền nợ lãi, cụ thể bà H đã trả cho bà qua tài khoản của con gái bà hai lần, mỗi lần 50.000.000đ, con trai bà H là anh Ph trả cho bà số tiền 20.000.000đ ngày trả thì bà không nhớ. Do đó vợ chồng bà khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà H, anh T phải thanh toán cho bà số tiền nợ gốc là 1.000.000.000đ (một tỷ đồng) và tiền lãi tính từ ngày 08/7/2018 đến lúc anh T, bà H trả nợ xong, lãi suất tính theo quy định của nhà nước 1,6%/tháng) nhưng được trừ số tiền lãi mà bà H, anh T đã trả cho bà là 180.000.000đ.
Quá trình giải quyết vụ án, bà Th đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu Q đã thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện. Bà không yêu cầu bà H, anh T phải trả tổng tiền gốc là 1.000.000.000đ mà số tiền lãi anh T, bà H đã trả cho bà là 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng) chuyển sang tiền nợ gốc. Việc anh T trình bày khoản nợ trên là của riêng bà H là không đúng vì khi bà H và anh T vay tiền của vợ chồng bà thì anh T là người đặt vấn đề vay. Khi giao nhận tiền thì có mặt cả anh T và bà H và anh T là người trực tiếp viết người vay và trực tiếp ký tên người vay, nên khoản nợ trên là của cả anh T và bà H. Do đó anh T trình bày khoản vay trên là của riêng bà H thì bà không đồng ý. Do đó bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh T, bà H phải trả cho vợ chồng bà số tiền nợ gốc còn lại là 820.000.000đ (tám trăm hai mươi triệu đồng), tiền lãi suất là 0,83%/tháng tính từ ngày bà H, anh T vi phạm nghĩa vụ thanh toán (29/5/2018) đến ngày xét xử sơ thẩm (31/7/2020) là 26 tháng 02 ngày, cụ thể: Tiền lãi của 26 tháng là 820.000.000đ x 0,83%/tháng x 26 tháng = 176.956.000đ, tiền lãi của 02 ngày là 6.806.000đ : 30 ngày = 226.866đ x 02 ngày = 453.732đ. Tổng cả gốc và lãi là 997.409.732đ. Bà yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết buộc bà H, anh T phải trả cho vợ chồng bà số tiền trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét trong hồ sơ vụ án, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Phùng Thị H đang chấp hành án. Anh Hoàng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[2]. Xét nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thể hiện: Ngày 08/5/2018 vợ chồng ông Nguyễn Hữu Q, bà Bùi Thị Th cho bà Phùng Thị H và anh Hoàng T vay số tiền 1.000.000.000đ (một tỷ đồng) mục đích vay để làm ăn (buôn quặng), khi vay hai bên có viết giấy vay tiền mặt có chữ ký của người vay và thỏa thuận ngày trả nhưng không thỏa thuận lãi suất trong giấy vay tiền. Do đó hợp đồng vay tiền giữa bà Th, ông Q với bà H, anh T là hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn. Vì vậy hợp đồng giữa các bên đã ký kết là hợp pháp, có hiệu lực đối với hai bên, ông Tùng và bà H trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời hạn nhận tài sản và kể từ thời điểm đó anh T và bà H phải có nghĩa vụ trả nợ vay khi đến hạn và phải chịu lãi suất theo thỏa thuận và theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 điều 308; điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận một phần kháng nghị số: 1671/QĐKNPT-VKS-DS ngày 26/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, sửa bản án sơ thẩm số 03/2020/DS-ST ngày 31/7/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Thái H, tỉnh Nghệ An về cách tuyên.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Th, ông Nguyễn Hữu Q.
Buộc bị đơn bà Phùng Thị H và anh Hoàng T phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho bà Bùi Thị Th và ông Nguyễn Hữu Q tổng số tiền là 997.409.732đ (chín trăm chín mươi bảy triệu, bốn trăm linh chín nghìn, bảy trăm ba mươi hai đồng), trong đó tiền nợ gốc là 820.000.000đ (tám trăm hai mươi triệu đồng), tiền lãi tính đến hết ngày (31/7/2020) là 177.409.732đ (một trăm bảy mươi bảy triệu, bốn trăm linh chín nghìn, bảy trăm ba mươi hai đồng).
Cụ thể: bà Phùng Thị H phải có nghĩa vụ trả nợ cho bà Bùi Thị Th và ông Nguyễn Hữu Q số tiền là 498.704.866đ. Anh Hoàng T phải có nghĩa vụ trả nợ cho bà Bùi Thị Th và ông Nguyễn Hữu Q số tiền là 498.704.866đ.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Án phí: Buộc bà Phùng Thị H và anh Hoàng T mỗi người phải chịu 20.961.145đ án phí dân sự sơ thẩm.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nghệ An; - THADS thị xã Thái H; - TAND thị xã Thái H; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Huyền |
Bản án số 07/2021/DS-PT ngày 16/03/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 07/2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/03/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
