Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH TƯỜNG

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/KDTM-ST

Ngày: 14/5/2024

“V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Văn Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Triển và bà Vũ Thị Thanh Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Tạ Việt Hùng -Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 25/2023/TLST- KDTM ngày 01 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-KDTM ngày 15 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C

Địa chỉ: Số A, T, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Bình M – Chủ tịch HĐQT.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Hương M1 – Phó giám đốc Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh V và ông Nguyễn Hoàng L – Phó phòng tổng hợp Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh V (Văn bản ủy quyền số 605/UQ-HĐQT-NHCT-PCTT3 ngày 31 tháng 5 năm 2023).

Địa chỉ: Số D, N, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (Ông L có mặt).

- Bị đơn: Bà Kim Thị H, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

+ Chị Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 2001; địa chỉ: Số nhà D, K, phường K, quận T, thành phố Hà Nội (vắng mặt).

+ Cháu Nguyễn Anh D, sinh năm 2007; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu D: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1975 và bà Kim Thị H, sinh năm 1977; cùng địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 10 năm 2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng L trình bày:

Ngày 01/02/2023 Ngân hàng TMCP C (Sau đây được viết tắt là Ngân hàng) đã ký hợp đồng tín dụng hạn mức số: 3101.44262/2023-HĐCVHM/NHCT246 với bà Kim Thị H, thời hạn duy trì hạn mức tín dụng từ ngày 01/02/2023 đến hết ngày 01/02/2024, hạn mức cho vay là 7.000.000.000 đồng; thời hạn cho vay là 06 tháng/giấy nhận nợ. Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động kinh doanh hàng kim khí, sắt thép cơ khí, inox các loại; Lãi suất tại thời cho vay là 9,6%/năm và chỉ có giá trị cho kỳ tính lãi đầu tiên đối với những khoản giải ngân phát sinh tại ngày ký hợp đồng. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi suất chậm trả bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Căn cứ theo hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân 11 lần cho bà Kim Thị H vay tổng số tiền 7.000.000.000 đồng. Ngoài ra, trong hợp đồng còn quy định về phí trả nợ trước hạn, phí cam kế rút vốn và các loại phí khác theo quy định của Ngân hàng tại từng thời điểm.

Về tài sản đảm bảo khoản vay: Để đảm bảo cho khoản vay trên vợ chồng bà Kim Thị H và ông Nguyễn Văn K đã thế chấp tài sản bảo đảm gồm:

- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất là thửa đất số 556 tờ bản đồ số 6, diện tích 100,3 m² (trong đó đất ở 100,3 m²); địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT453662, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS01343 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 12/7/2018 cho ông Nguyễn Văn K và bà Kim Thị H. Tài sản này được thế chấp tại ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 18.107.23/2028/HĐBĐ/NHCT246 ngày 03/8/2018, số công chứng

3995/2018/HĐTC, quyển số 10TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, tỉnh Vĩnh Phúc công chứng ngày 03/8/2018.

- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất là thửa đất số 681 tờ bản đồ số 6, diện tích 190 m² (trong đó đất ở 190 m²); địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO848360, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH00012 do Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 10/5/2013 cho hộ ông Nguyễn Văn K và bà Kim Thị H. Tài sản này được thế chấp tại ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 18.107.23/2028/HĐBĐ/NHCT246 ngày 13/6/2018, số công chứng 2921/2018/HĐTC, quyển số 10TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, tỉnh Vĩnh Phúc công chứng ngày 13/6/2018.

Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, bà Kim Thị H, ông Nguyễn Văn K đã trả cho Ngân hàng số tiền lãi là 189.020.320 đồng.

Tính đến ngày 14/5/2024 bà Kim Thị H, ông Nguyễn Văn K còn nợ Ngân hàng tổng số tiền: 7.864.685.590 đồng, trong đó: Nợ gốc 7.000.000.000 đồng, nợ lãi là 864.685.590 đồng (trong đó nợ lãi trong hạn 607.553.572 đồng, nợ lãi phạt quá hạn là 230.623.562 đồng và lãi phạt chậm trả lãi là 26.508.456 đồng).

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Kim Thị H, ông Nguyễn Văn K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Toàn bộ khoản vay đứng tên bà Kim Thị H đã quá hạn trả nợ lãi từ kỳ phải trả nợ 20/7/2023 và quá hạn nợ gốc kỳ trả nợ đầu tiên từ ngày 01/8/2023.

Nay, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết:

Đề nghị Toà án giải quyết buộc bà Kim Thị H và ông Nguyễn Văn K phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP C theo hợp đồng hạn mức số 3101.44262/2023-HĐCVHM/NHCT246 ngày 01/02/2023 tổng số tiền tính đến ngày 14/5/2024 là 7.864.685.590 đồng, trong đó: Nợ gốc 7.000.000.000 đồng, nợ lãi là 864.685.590 đồng (trong đó nợ lãi trong hạn 607.553.572 đồng, nợ lãi phạt quá hạn là 230.623.562 đồng và lãi phạt chậm trả lãi là 26.508.456 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 15/5/2024) cho đến khi thi hành xong, bà H và ông K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc (7.000.000.000 đồng) theo mức lãi suất là 14,4%/năm và lãi phạt chậm trả lãi là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả cho đến khi trả xong khoản nợ.

Trường hợp bà Kim Thị H và ông Nguyễn Văn K không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Chi tiết tài sản theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 18.107.23/2018/HĐBĐ/NHCT246

ngày 03/8/2018, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 18.107.10/2018/HĐBĐ/NHCT246 ngày 13/6/2018 đối với các tàu sản bảo đảm là:

- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất là thửa đất số 556 tờ bản đồ số 6, diện tích 100,3 m²(trong đó đất ở: 100,3 m²); địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT453662, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS01343 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 12/7/2018 cho ông Nguyễn Văn K và bà Kim Thị H.

- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất là thửa đất số 681 tờ bản đồ số 6, diện tích 190 m² (trong đó đất ở: 190 m²); địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO848360, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH00012 do Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 10/5/2013 cho hộ ông Nguyễn Văn K và bà Kim Thị H.

Căn cứ vào kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 22/12/2023, kết quả đo đạc hiện trạng đối với tài sản thế chấp là thửa đất số 556, tờ bản đồ số 6 có diện tích đo đạc thực tế là 100,3 m²; thửa đất số 681 tờ bản đồ số 6, có diện tích thực tế là 190 m²; cả hai thửa đất đều có địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với Ngân hàng. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng.

- Về chi phí tố tụng: Đề nghị Tòa án buộc ông K, bà H phải hoàn trả cho Ngân hàng 10.000.000 đồng đã ứng nộp chi phí thẩm định tài sản cho Tòa án.

- Về án phí: Đề nghị ông K, bà H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Bị đơn là bà Kim Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình giải quyết vụ án bà H trình bày:

Về thời gian ký kết hợp đồng tín dụng, mục đích vay, phương thức cho vay, số tiền vay, lãi suất tại thời điểm cho vay, điều chỉnh lãi suất cho vay, lãi suất quá hạn, thời hạn cho vay, tài sản đảm bảo; số tiền gốc, số tiền lãi trong hạn, số tiền lãi quá hạn, lãi phạt chậm trả lãi như đại diện Ngân hàng trình bày là đúng.

Để đảm bảo cho khoản vay, ngày 03/8/2018 và 13/6/2018, bà và chồng là ông Nguyễn Văn K đã ký với ngân hàng Hợp đồng thế chấp tài sản, cụ thể:

- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 18.107.23/2028/HĐBĐ/NHCT246 ngày 03/8/2018 đối với quyền sử dụng đất,

quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất là thửa đất số 556 tờ bản đồ số 6, diện tích 100,3 m²(trong đó đất ở: 100,3 m²); địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT453662, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS01343 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 12/7/2018 cho ông Nguyễn Văn K và bà Kim Thị H. Nguồn gốc đất và do vợ chồng bà H, ông K nhận chuyển nhượng lại của người khác.

- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 18.107.23/2028/HĐBĐ/NHCT246 ngày 13/6/2018 đối với quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất là thửa đất số 681 tờ bản đồ số 6, diện tích 190 m²(trong đó đất ở: 190 m²); địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO848360, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH00012 do Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 10/5/2013 cho hộ ông Nguyễn Văn K và bà Kim Thị H. Nguồn gốc đất là do Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất. Tại thời điểm được Nhà nước cấp giấy chứng quyền sử dụng đất chị Nguyễn Thị Thanh H1, anh Nguyễn Anh D đều còn nhỏ không có đóng góp được công sức gì trong việc hình thành tài sản thế chấp là thửa đất số 681 tờ bản đồ số 6 cũng như thửa đất số 556 tờ bản đồ số 6.

Quá trình thực hiện hợp đồng do việc làm ăn kinh tế của vợ chồng bà gặp nhiều khó khăn nên vợ chồng đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà phải trả toàn bộ nợ gốc, lãi cho Ngân hàng. Trường hợp bà và ông Nguyễn Văn K không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm. Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với Ngân hàng. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng. Quan điểm của bà là nhất trí trả nợ cho Ngân hàng nhưng do hiện nay việc làm ăn kinh tế gặp nhiều khó khăn nên bà đề nghị Ngân hàng giãn thời gian trả nợ cho vợ chồng bà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn K vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa không có lý do Tòa án xác minh tại chính quyền địa phượng thì ông Nguyễn Văn K có hộ khẩu thường trú tại thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Theo địa phương cung cấp hiện nay ông K vẫn cư trú tại thôn C, xã T. Tòa án đã gửi các thông báo, giấy triệu tập hợp lệ cho ông đến Tòa án làm việc nhưng ông K không chấp hành.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Thanh H1 vắng mặt

tại phiên tòa nhưng trong quá trình giải quyết vụ án chị H1 có trình bày: Chị là con của bà Kim Thị H và ông Nguyễn Văn K. Việc bà H, ông K vay nợ Ngân hàng và thế chấp tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất thửa đất số 681, tờ bản đồ số 6 như thế nào chị không biết. Thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 681, tờ bản đồ số 6 ngày 10/5/2013 chị còn nhỏ, là học sinh và không có công sức đóng góp gì đối với thửa đất này. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, chị H1 đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường phát biểu quan điểm về việc tuân thủ các quy định tố tụng của Thẩm phán về quá trình nhận đơn, thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự; tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 30; Điều 35; Điều 39; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 117, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 401, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C.

Buộc bà Kim Thị H và ông Nguyễn Văn K phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP C số tiền tính đến ngày 14/5/2024 là 7.864.685.590 đồng, trong đó: Nợ gốc 7.000.000.000 đồng, nợ lãi là 864.685.590 đồng (trong đó nợ lãi trong hạn 607.553.572 đồng, nợ lãi phạt quá hạn là 230.623.562 đồng và lãi phạt chậm trả lãi là 26.508.456 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 15/5/2024) cho đến khi thi hành xong, bà H và ông K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc 7.000.000.000 đồng) theo mức lãi suất là 14,4%/năm và lãi phạt chậm trả lãi là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả cho đến khi trả xong nợ.

Trường hợp bà Kim Thị H và ông Nguyễn Văn K không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 18.107.23/2018/HĐBĐ/NHCT246 ngày 03/8/2018 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 18.107.10/2018/HĐBĐ/NHCT246 ngày 13/6/2018, cụ thể:

+ Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất là thửa đất số 556 tờ bản đồ số 6, diện tích 100,3 m²(trong đó đất ở: 100,3 m²); địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT453662, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS01343 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 12/7/2018 cho ông Nguyễn Văn K và bà Kim Thị H.

+ Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất là thửa đất số 681 tờ bản đồ số 6, diện tích 190 m² (trong đó đất ở: 190 m²); địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO848360, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH00012 do Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 10/5/2013 cho hộ ông Nguyễn Văn K và bà Kim Thị H.

Nếu số tiền thu được từ việc kê biên, xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ, bà H và ông K có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.

- Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên bà H, ông K phải chịu chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên bà H, ông K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn là bà Kim Thị H có nơi cư trú tại thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ tranh chấp: Hợp đồng vay vốn được ký kết giữa ngân hàng là tổ chức tín dụng với bà Kim Thị H là chủ hộ kinh doanh, mục đích vay vốn kinh doanh hàng kim khí, sắt thép cơ khí, inox các loại, hai bên đều có mục đích lợi nhuận. Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xác định quan hệ tranh chấp là “tranh chấp hợp đồng tín dụng” là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 01/02/2023 Ngân hàng và bị đơn ký kết Hợp đồng cho vay hạn mức số 3101.44262/2023-HĐCVHM/NHCT246. Căn cứ theo hợp đồng Ngân hàng đã giải ngân cho bà H, ông K vay theo 11 giấy nhận nợ vào các ngày 13/02/2023, 26/04/2023, 01/02/2023, 07/02/2023, 28/04/2023, 02/02/2023, 03/02/2023, 09/02/2023, 08/02/2023, 10/02/2023, 27/04/2023. Ngày 20/7/2023 bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng. Ngày 31/10/2023

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn trả khoản tiền vay. Theo quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự thì yêu cầu khởi kiện của ngân hàng còn trong thời hiệu khởi kiện.

[4]. Về thủ tục xét xử vắng mặt: Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được Tòa án triệu tập hợp lần 2 vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[5]. Về nội dung khởi kiện

[5.1] Về hiệu lực của hợp đồng: Hợp đồng cho vay hạn mức số 3101.44262/2023-HĐCVHM/NHCT246 ngày 01/02/2023, 11 giấy nhận nợ vào các ngày 13/02/2023, 26/04/2023, 01/02/2023, 07/02/2023, 28/04/2023, 02/02/2023, 03/02/2023, 09/02/2023, 08/02/2023, 10/02/2023, 27/04/2023; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 18.107.23/2028/HĐBĐ/NHCT246 ngày 03/8/2018, số công chứng 3995/2018/HĐTC, quyển số 10TP/CC-SCC/HĐGD và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 18.107.23/2028/HĐBĐ/NHCT246 ngày 13/6/2018, số công chứng 2921/2018/HĐTC, quyển số 10TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, tỉnh Vĩnh Phúc công chứng đều được các bên ký kết hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, không bị lừa dối, các chủ thể ký kết đều đúng thẩm quyền và có đủ năng lực hành vi dân sự; hình thức hợp đồng tuân thủ đúng quy định của pháp luật; mục đích vay vốn để bổ sung vốn kinh doanh hàng kim khí, sắt thép cơ khí, inox các loại. Đây là thỏa thuận phù hợp với ngành, nghề kinh doanh được ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh Kim Thị H (Khảm). Các điều khoản trong hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội. Quá trình thực hiện hợp đồng các bên đều không có ý kiến gì đối với các văn bản trên. Vì vậy, Hợp đồng cho vay hạn mức số 3101.44262/2023-HĐCVHM/NHCT246 ngày 01/02/2023, 11 giấy nhận nợ vào các ngày 13/02/2023, 26/04/2023, 01/02/2023, 07/02/2023, 28/04/2023, 02/02/2023, 03/02/2023, 09/02/2023, 08/02/2023, 10/02/2023, 27/04/2023 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 18.107.23/2028/HĐBĐ/NHCT246 ngày 03/8/2018, số công chứng 3995/2018/HĐTC, quyển số 10TP/CC-SCC/HĐGD, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 18.107.23/2028/HĐBĐ/NHCT246 ngày 13/6/2018, số công chứng 2921/2018/HĐTC, quyển số 10TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, tỉnh Vĩnh Phúc công chứng giữa Ngân hàng và bà Kim Thị H và ông Nguyễn Văn K đều hợp pháp và có hiệu lực thi hành.

[5.2]. Xét yêu cầu thanh toán nợ gốc: Theo nội dung thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay hạn mức số 3101.44262/2023-HĐCVHM/NHCT246 ngày

01/02/2023, 11 giấy nhận nợ vào các ngày 13/02/2023, 26/04/2023, 01/02/2023, 07/02/2023, 28/04/2023, 02/02/2023, 03/02/2023, 09/02/2023, 08/02/2023, 10/02/2023, 27/04/2023 thì Ngân hàng đã giải ngân đủ cho vợ chồng bà H, ông K vay tổng số tiền gốc là 7.00.000.000 đồng; lãi suất của hợp đồng tín dụng được quy định theo giấy nhận nợ tại thời điểm giải ngân là 9,6%/ năm, lãi suất được điều chỉnh 01 tháng/lần, lãi suất cho vay của bất kỳ khoản nợ nào sẽ được xác định vào ngày giải ngân của khoản nợ đó và được điều chỉnh (xác định lại) vào ngày 10 hàng tháng hoặc ngày làm việc liền kề trước đó nếu ngày 10 đó không phải là ngày làm việc. Lãi suất đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi suất chậm trả lãi bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Thời hạn cho vay của từng khoản nợ được tính từ ngày tiếp theo của ngày bên cho vay giải ngân khoản nợ đến ngày bên vay phải trả toàn bộ nợ gốc và lãi vay. Thời hạn cho vay của khoản nợ được khi trên giấy nhận nợ nhưng tối đa không quá 06 tháng. Đây là khoản vay có kỳ hạn, có lãi. Đến thời hạn trả nợ nhưng vợ chồng bà H, ông K không trả được cho Ngân hàng khoản tiền nợ gốc nào. Vì vậy, yêu cầu của Ngân hàng buộc bà H, ông K phải có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc là 7.000.000.000 đồng là có cơ sở nên được chấp nhận.

[5.3]. Xét yêu cầu thanh toán nợ lãi: Tại Hợp đồng cho vay hạn mức số 3101.44262/2023-HĐCVHM/NHCT246 ngày 01/02/2023, 11 giấy nhận nợ vào các ngày 13/02/2023, 26/04/2023, 01/02/2023, 07/02/2023, 28/04/2023, 02/02/2023, 03/02/2023, 09/02/2023, 08/02/2023, 10/02/2023, 27/04/2023 các bên thỏa thuận lãi suất được quy định theo 11 giấy nhận nợ là 9,6%; Lãi suất đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi suất chậm trả lãi bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Xét việc thỏa thuận về tính lãi trong hạn và lãi quá hạn của các bên trong Hợp đồng cho vay hạn mức số 3101.44262/2023-HĐCVHM/NHCT246 ngày 01/02/2023, 11 giấy nhận nợ vào các ngày 13/02/2023, 26/04/2023, 01/02/2023, 07/02/2023, 28/04/2023, 02/02/2023, 03/02/2023, 09/02/2023, 08/02/2023, 10/02/2023, 27/04/2023 đều phù hợp với quy định tại các Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Do đó, cần chấp nhận số tiền lãi như Ngân hàng đã yêu cầu bà H, ông K phải trả với tổng số tiền nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 14/5/2024 là 864.685.590 đồng, trong đó nợ lãi trong hạn 607.553.572 đồng, nợ lãi phạt quá hạn 230.623.562 đồng và lãi phạt chậm trả lãi là 26.508.456 đồng.

[5.4]. Đối với yêu cầu tính lãi tiếp theo sau ngày xét xử sơ thẩm: Quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng yêu cầu kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 15/5/2024) bà H, ông K vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì bà H, ông K phải chịu

mức lãi suất là 14,4%/năm trên dư nợ gốc chưa trả (7.000.000.000 đồng) và lãi phạt chậm trả lãi là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả cho đến khi trả xong nợ. Thấy rằng, yêu cầu trên của Ngân hàng là phù hợp với các quy định tại các Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết: 01/2019/NQ – HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5.5]. Về tài sản bảo đảm cho khoản vay: Vợ chồng bà Kim Thị H và ông Nguyễn Văn K đã thế chấp tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình tại Ngân hàng để bảo đảm khoản vay của mình tại Ngân hàng, tài sản thế chấp gồm 02 tài sản là:

+ Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất là thửa đất số 556 tờ bản đồ số 6, diện tích 100,3 m²(trong đó đất ở: 100,3 m²); địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT453662, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS01343 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 12/7/2018 cho ông Nguyễn Văn K và bà Kim Thị H. Theo hợp đồng thế chấp ngày 03/8/2023.

+ Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất là thửa đất số 681 tờ bản đồ số 6, diện tích 190 m²(trong đó đất ở: 190 m²); địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO848360, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH00012 do Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 10/5/2013 cho hộ ông Nguyễn Văn K và bà Kim Thị H. Theo hợp đồng thế chấp ngày 13/6/2023.

Qua xem xét thẩm định thửa đất 556 có diện tích 100,3 m2, thửa đất 681 có diện tích là 190m²; các thửa đất có diện tích bằng với diện tích đất được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các thửa đất trên đã được phân định ranh giới bằng tường nhà với các hộ liền kề, không xảy ra tranh chấp với các hộ liên kề và không lấn chiếm ra đất công. Trên thửa đất 556 có tài sản là 01 nhà ống khép kín 3 tầng lợp mái tôn hai lớp có diện tích 90m²/sàn. Diện tích đất được giới hạn bởi các điểm 1,2,3,4,5,1 cụ thể: Cạnh 1-2 = 6,01m; cạnh 2-3 = 16,17m; cạnh 3-4= 4,52m; cạnh 4-5= 22,41m; cạnh 5-1 = 4,5m; Trên thửa đất 681 có tài sản là 01 nhà xưởng khung sườn thép, mái tôn có diện tích 190m². Diện tích đất được giới hạn bởi các điểm 1,2,3,4,1 cụ thể: Cạnh 1-2 = 19m; cạnh 2-3 = 10m; cạnh 3-4= 19m; cạnh 4-1=10m.

Qua xác minh tại địa phương cũng như lời trình bày của bà H, ông K đều xác nhận: Thửa đất 556 có nguồn gốc là vợ chồng bà H, ông K nhận chuyển nhượng của bà Phan Thị H2. Năm 2018 vợ chồng bà H, ông K làm thủ tục cấp

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông K, bà H; Thửa đất 681 có nguồn gốc là được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất cho bà H, ông K. Đến năm 2013 vợ chồng bà H, ông K làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xây dựng các công trình trên đất thì các con bà H, ông K còn nhỏ đang trong độ tuổi đi học nên không có công sức đóng góp gì đối với các tài sản trên.

Xét thấy, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có số công chứng 3995/2018/HĐTC, quyển số 10TP/CC-SCC/HĐGD ngày 03/8/2023 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số ngày 13/6/2018, số công chứng 2921/2018/HĐTC, quyển số 10TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, tỉnh Vĩnh Phúc công chứng và được đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện V theo quy định của pháp luật. Hợp đồng thế chấp đáp ứng đủ điều kiện về chủ thể ký hợp đồng, nội dung, thủ tục và hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên có hiệu lực thi hành với các bên. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 03/8/2023 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 13/6/2023 đã ký để thu hồi nợ cho Ngân hàng nếu bà H, ông K không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ theo bản án của Tòa án. Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng nêu trên của bà H, ông K với Ngân hàng. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả hết khoản nợ, thì bà H, ông K có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán khoản nợ cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Như vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C được chấp nhận toàn bộ.

[6]. Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bà H, ông K phải liên đới chịu 10.000.000 đồng chi phí tố tụng. Do Ngân hàng đã nộp số tiền trên và đã chi phí xong nên bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng.

[7]. Về án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên Ngân hàng không phải chịu án phí nên được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bà H và ông K phải liên đới chịu án phí theo quy định của pháp luật. Cụ thể số tiền bà H, ông K phải trả Ngân hàng là 7.864.685.590 đồng nên án phí kinh doanh thượng mại sơ thẩm phải chịu là 7.864.685.590 đồng = 112.000.000 đồng + (0,1% x 3.864.685.590 đồng) = 115.864.685 đồng (làm tròn 115.864.000 đồng).

[8] Về ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30; Điều 35; Điều 39; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 117, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 401, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần C đối với bà Kim Thị H và ông Nguyễn Văn K.
  2. Buộc bà Kim Thị H và ông Nguyễn Văn K phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP C tổng số tiền tính đến ngày 14/5/2024 là 7.864.685.590 đồng, trong đó: Nợ gốc 7.000.000.000 đồng, nợ lãi là 864.685.590 đồng (trong đó nợ lãi trong hạn 607.553.572 đồng, nợ lãi phạt quá hạn là 230.623.562 đồng và lãi phạt chậm trả lãi là 26.508.456 đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 15/5/2024) cho đến khi thi hành xong, bà H và ông K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc 7.000.000.000 đồng) theo mức lãi suất là 14,4%/năm và lãi phạt chậm trả lãi là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả cho đến khi trả xong nợ.

    Trường hợp bà Kim Thị H và ông Nguyễn Văn K không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP C thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 18.107.23/2018/HĐBĐ/NHCT246 ngày 03/8/2018, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 18.107.23/2028/HĐBĐ/NHCT246 ngày 13/6/2018. Tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất là thửa đất số 556 tờ bản đồ số 6, diện tích 100,3 m²(trong đó đất ở: 100,3 m²); địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT453662, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS01343 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 12/7/2018 cho ông Nguyễn Văn K và bà Kim Thị H; Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất là thửa đất số 681 tờ bản đồ số 6, diện tích 190 m²(trong đó đất ở: 190 m²); địa chỉ tại thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở

hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO848360, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH00012 do Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 10/5/2013 cho hộ ông Nguyễn Văn K và bà Kim Thị H.

Qua đo đạc thực tế thửa đất 556 có diện tích 100,3 m2, thửa đất 681 có diện tích là 190m²; các thửa đất có diện tích bằng với diện tích đất được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên thửa đất 556 có tài sản là 01 nhà ống khép kín 3 tầng lợp mái tôn hai lớp có diện tích 90m²/sàn. Diện tích đất được giới hạn bởi các điểm 1,2,3,4,5,1 cụ thể: Cạnh 1-2 = 6,01m; cạnh 2-3 = 16,17m; cạnh 3-4= 4,52m; cạnh 4-5= 22,41m; cạnh 5-1 = 4,5m; Trên thửa đất 681 có tài sản là 01 nhà xưởng khung sườn thép, mái tôn có diện tích 176,3m². Diện tích đất được giới hạn bởi các điểm 1,2,3,4,1 cụ thể: Cạnh 1-2 = 19m; cạnh 2-3 = 10m; cạnh 3-4= 19m; cạnh 4-1=10m (Có sơ đồ hiện trạng thửa đất do Công ty cổ phần Đ thực hiện kèm theo bản án).

Trường hợp số tiền thu được từ việc bán tài sản bảo đảm sau khi trừ đi các chi phí cho việc bán tài sản, các khoản phải nộp cho Nhà nước (nếu có) không đủ để trả hết nợ cho Ngân hàng thì bà Kim Thị H và ông Nguyễn Văn K phải có trách nhiệm tiếp tục trả nợ gốc và lãi cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.

  1. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Kim Thị H và ông Nguyễn Văn K phải trả cho Ngân hàng TMCP C số tiền 10.000.000 đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng TMCP C có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Kim Thị H và ông Nguyễn Văn K không thanh toán trả cho Ngân hàng khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian trậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.

  2. Về án phí: Bà Kim Thị H và ông Nguyễn Văn K phải chịu 115.864.000 đồng án phí kinh doanh thương mại. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP C số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 72.225.000 đồng theo biên lai thu số 0004554 ngày 01/11/2023 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Vĩnh Tường;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Tường;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ + Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Lương Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/KDTM-ST ngày 14/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 06/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đống tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger