TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2024/HNGĐ - ST Ngày: 30/7/2024 “V/v tranh chấp hôn nhân gia đình" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Khánh
Các Hội thẩm nhân dân:
- +. Ông Võ Minh Vỹ
- +. Ông Hoàng Văn Hợp
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò: Bà Phan Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Cửa Lò xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 51/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXX-ST ngày 16 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Ngân Thị V, sinh năm 1988.
- - Bị đơn: Anh Trần Ngọc H, sinh năm 1987.
- Đều trú tại: K, phường T, thị xã C, tỉnh Nghệ An.
(Các đương sự đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/01/2024, bản tự khai, biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – Chị Ngân Thị V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngân Thị V và anh Trần Ngọc H kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 24 tháng 09 năm 2008 tại UBND xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do anh H sống không có trách nhiệm với gia đình, không tu chí làm ăn, không có đóng góp kinh tế cho chị V nuôi con, ngoài ra anh H còn sa đà vào tệ nạn xã hội (Nghiện ma túy) mặc dù chị V không có tài liệu chứng cứ để chứng minh. Do mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 09 năm 2023 cho đến nay. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên nội ngoại khuyên giải nhưng không có kết quả. Do tình cảm vợ chồng tình cảm không còn, chị V đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh H để sớm ổn định cuộc sống cho cả hai bên.
- Về con chung: Chị Ngân Thị V và anh Trần Ngọc H có 03 con chung là Trần Ngọc Anh T, sinh ngày 28/02/2009, Trần Ngọc Anh Q, sinh ngày 12/10/2010 và Trần Ngọc Anh D, sinh ngày 28/8/2016. Sau khi ly hôn, chị V có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cả ba con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con vì hiện tại anh H không có công ăn việc làm.
- Về tài sản chung: Chị Ngân Thị V và anh Trần Ngọc H không có tài sản chung gì có giá trị nên chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về khoản nợ: Chị Ngân Thị V không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, nhiều lần thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập hợp lệ cho anh Trần Ngọc H nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do, không chấp hành các văn bản tố tụng, không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó vụ án không tiến hành hòa giải được. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt anh Trần Ngọc H trình bày:
Anh Trần Ngọc H đã nhận được Thông báo thụ lý, thông báo hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử do Tòa án giao thông báo đến để giải quyết vụ việc ly hôn giữa anh H và chị Ngân Thị V. Tuy nhiên, do điều kiện công việc không thể về Tòa án trực tiếp đến tham gia phiên tòa được. Vì vậy, anh H đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt theo quy định. Về quan điểm giải quyết vụ án: Anh H đồng ý ly hôn, thống nhất giao các con cho chị V trực tiếp nuôi, không yêu cầu giải quyết về tài sản và nghĩa vụ chung về tài sản và cam kết không có khiếu nại hay thắc mắc gì kết quả xét xử.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc thụ lý vụ án, thông báo thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp, xác minh và thu thập chứng cứ, tổ chức hòa giải cũng như thời hạn giải quyết vụ án.
Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định về thành phần, nguyên tắc xét xử, trình tự tố tụng tại phiên tòa.
Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Ngân Thị V được ly hôn anh Trần Ngọc H.
- Về con chung: Giao 03 con chung là Trần Ngọc Anh T, sinh ngày 28/02/2009, Trần Ngọc Anh Q, sinh ngày 12/10/2010 và Trần Ngọc Anh D, sinh ngày 28/8/2016 cho chị Ngân Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Trần Ngọc H.
- Về tài sản chung, nợ chung: Miễn xét.
- Về án phí: Chị Ngân Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- Về thẩm quyền: Đây là vụ án hôn nhân gia đình do chị Ngân Thị V yêu cầu, nơi ĐKHKTT và cư trú của bị đơn – Anh Trần Ngọc H, sinh năm 1987, trú tại: K, phường T, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
- Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập hợp lệ nhưng chị Ngân Thị V, anh Trần Ngọc H đều có đơn xin xét xử vắng mặt; Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Ngân Thị V, anh Trần Ngọc H theo quy định.
- Về nội dung vụ án:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngân Thị V và anh Trần Ngọc H kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 24 tháng 09 năm 2008 tại UBND xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân theo chị V do anh H sống không có trách nhiệm với gia đình, không tu chí làm ăn, không có đóng góp kinh tế cho chị V nuôi con, ngoài ra anh H còn sa đà vào tệ nạn xã hội (Nghiện ma túy) mặc dù chị V không có tài liệu chứng cứ để chứng minh. Do mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 09 năm 2023 cho đến nay. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên nội ngoại khuyên giải nhưng không có kết quả. Do vợ chồng tình cảm không còn, chị V đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh H để sớm ổn định cuộc sống cho cả hai bên. Anh Trần Ngọc H không hợp tác với Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án, đều vắng mặt không có lý do, mặc dù Tòa án rất nhiều lần tổ chức các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải và đã tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ. Điều này chứng tỏ anh Trần Ngọc H không có ý thức níu kéo, gìn giữ hạnh phúc gia đình, trong đơn xin vắng mặt anh H thống nhất ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị V, anh H thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Ngân Thị V được ly hôn anh Trần Ngọc H.
- - Về con chung: Chị Ngân Thị V và anh Trần Ngọc H có 03 con chung là Trần Ngọc Anh T, sinh ngày 28/02/2009, Trần Ngọc Anh Q, sinh ngày 12/10/2010 và Trần Ngọc Anh D, sinh ngày 28/8/2016. Sau khi ly hôn, chị V có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cả ba con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con vì hiện tại anh H không có công ăn việc làm. Anh H có văn bản trình bày thống nhất giao 03 con chung cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Trần Ngọc H. Quá trình tố tụng mặc dù đã được Tòa án giải thích về nghĩa vụ cấp dưỡng là cấp dưỡng cho chính 03 con chung nhưng chị V vẫn giữ nguyên yêu cầu không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, ý chí của các bên về nuôi con, cấp dưỡng nuôi con của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên cần ghi nhận và giao 03 con chung là các cháu Trần Ngọc Anh T, sinh ngày 28/02/2009, Trần Ngọc Anh Q, sinh ngày 12/10/2010 và Trần Ngọc Anh D, sinh ngày 28/8/2016 cho chị Ngân Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trần Ngọc H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
- 3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ngân Thị V và anh Trần Ngọc H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Ngân Thị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Ngân Thị V được ly hôn anh Trần Ngọc H.
- Về con chung: Giao các cháu Trần Ngọc Anh T, sinh ngày 28/02/2009, Trần Ngọc Anh Q, sinh ngày 12/10/2010 và Trần Ngọc Anh D, sinh ngày 28/8/2016 cho chị Ngân Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Trần Ngọc H.
Anh Trần Ngọc H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Chị Ngân Thị V cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Trần Ngọc H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh Trần Ngọc H không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con chung các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
- Về tài sản chung, nợ chung: Miễn xét.
- Về án phí: Buộc chị Ngân Thị V phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) chị Ngân Thị V đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0008861 ngày 07/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Chị Ngân Thị V đã nộp đủ án phí.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Chị Ngân Thị V, anh Trần Ngọc H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết theo đúng quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Khánh |
Bản án số 06/2024/HNGĐ - ST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 06/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
