Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 06/2024/KDTM-ST

Ngày: 28-5-2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín

dụng”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đậu Thị Thảo

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Kim Lý;
  2. Ông Lương Thanh Nhàn.

– Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuỷ – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 40/2023/TLST-KDTM ngày 02/8/2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2024/QĐST-DS ngày 08/5/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; địa chỉ: Số B, N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc D, sinh năm 1984; địa chỉ: khu phố B, phường T, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo uỷ quyền (Giấy uỷ quyền số 09/2023/UQ-CNBD ngày 29/6/2023). Có mặt.

Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn V; địa chỉ: T đất số 1076, tờ bản đồ số 48, tổ A, ấp L, xã A, thị xã B (nay là khu phố L, phường A, thành phố B), tỉnh Bình Dương.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Trương Thị Thúy O, chức danh: Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc; địa chỉ: Thửa đất số 1076, tờ bản đồ số 48, tổ A, ấp L, xã A, thị xã B (nay là khu phố L, phường A, thành phố B), tỉnh Bình Dương. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trương Thị Thúy O, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp L, xã A, thị xã B (nay là khu phố L, phường A, thành phố B), tỉnh Bình Dương. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trương Thị Thúy O: Bà Lê Thị L - Luật sư thuộc Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. Có mặt.

  1. Ông Nguyễn Tấn H, sinh năm 1978

Địa chỉ: ấp L, xã A, thị xã B (nay là khu phố L, phường A, thành phố B), tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 29/6/2023, Bản tự khai ngày 27/9/2023 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng cũng như tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Quốc D trình bày:

Ngày 27/10/2022, Ngân hàng S – Chi nhánh B (sau đây gọi tắt là Ngân hàng S) đã cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn V (sau đây gọi tắt là Công ty V) vay vốn theo Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số [...] với hạn mức tín dụng là 3.000.000.000 đồng, thời hạn của hạn mức tín dụng là 12 tháng.

Theo hợp đồng này, Ngân hàng S đã cho Công ty V vay tổng số tiền là 2.700.000.000 đồng (hai tỷ, bảy trăm triệu đồng). Mục đích vay vốn: bổ sung vốn kinh doanh. Số tiền cho Công ty V vay được giải ngân theo 10 Giấy nhận nợ cụ thể như sau:

  1. Giấy nhận nợ số LD2231100287 ngày vay 07/11/2022, số tiền vay 300.000.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm triệu đồng);
  2. Giấy nhận nợ số LD2231400067 ngày 10/11/2022, số tiền 300.000.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm triệu đồng chẵn);
  3. Giấy nhận nợ số LD2234200121 ngày 08/12/2022, số tiền 300.000.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm triệu đồng chẵn);
  4. Giấy nhận nợ số LD2236100064 ngày 27/12/2022, số tiền 300.000.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm triệu đồng chẵn);
  5. Giấy nhận nợ số LD2301600580 ngày 16/01/2023, số tiền 300.000.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm triệu đồng chẵn);
  6. Giấy nhận nợ số LD2301800638 ngày 18/01/2023, số tiền 200.000.000 đồng (bằng chữ: Hai trăm triệu đồng chẵn);
  7. Giấy nhận nợ số LD2303000156 ngày 30/01/2023, số tiền 300.000.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm triệu đồng chẵn);
  8. Giấy nhận nợ số LD2309500232 ngày 05/04/2023, số tiền 300.000.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm triệu đồng chẵn);
  9. Giấy nhận nợ số LD2310900656 ngày 19/04/2023, số tiền 300.000.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm triệu đồng chẵn);
  10. Giấy nhận nợ số LD2311500470 ngày 25/04/2023, số tiền 100.000.000 đồng (bằng chữ: Một trăm triệu đồng chẵn).

Để đảm bảo khoản vay này, ông Nguyễn Tấn H ký Hợp đồng thế chấp số 4393/TC ngày 10/10/2019 đồng ý thế chấp thửa đất 1076, tờ bản đồ số 48, tọa lạc A, B, Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB076704, số vào sổ cấp GCN số CS04566 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh B cấp ngày 27/11/2015 cho ông Nguyễn Tấn H; thỏa thuận sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp số 4393/TC-01 ngày 27/10/2022. Bà Trương Thị Thúy O và ông Nguyễn Tấn H ký hợp đồng thế chấp số 5254/TC ngày 30/11/2021 đồng ý thế chấp thửa đất 245, tờ bản đồ số 8, tọa lạc A, B, Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH958777, số vào sổ cấp GCN số CS06291 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh B cấp ngày 16/06/2017 cho bà Trương Thị Thúy O; Thỏa thuận sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp số 5254/TC-01 ngày 27/10/2022 được công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương ngày 27/10/2022.

Ngày 07/05/2023, do Công ty V vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên đã chuyển toàn bộ số nợ vay thành nợ quá hạn kể từ ngày 07/5/2023.

Mặc dù Ngân hàng S thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp để yêu cầu Công ty V có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng S cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để Công ty V trả nợ. Tuy nhiên, Công ty V vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.

Tính đến ngày 28/5/2024, Công ty V còn nợ của Ngân hàng S tổng số tiền là 3.227.603.835 đồng (bằng chữ: ba tỷ, hai trăm hai mươi bảy triệu, sáu trăm lẻ ba nghìn, tám trăm ba mươi lăm đồng), trong đó: Nợ gốc: 2.700.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 351.735.890 đồng; nợ lãi quá hạn: 175.867.946 đồng.

Nay Ngân hàng S khởi kiện yêu cầu Tòa giải quyết cụ thể như sau:

  1. Buộc Công ty V phải trả ngay cho Ngân hàng S tổng số tiền tính đến ngày 28/5/2024 là 3.227.603.835 đồng (bằng chữ: ba tỷ, hai trăm hai mươi bảy triệu, sáu trăm lẻ ba nghìn, tám trăm ba mươi lăm đồng), trong đó: Nợ gốc: 2.700.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 351.735.890 đồng; nợ lãi quá hạn: 175.867.946 đồng.
  2. Kể từ ngày 29/5/2024, Công ty V còn phải thanh toán tiền lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết.
  3. Trường hợp Công ty V không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa cho phát mãi ngay toàn bộ tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ gồm:
    • + Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất 1076, tờ bản đồ số 48, tọa lạc A, B, Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB076704, số vào sổ cấp GCN số CS04566 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh B cấp ngày 27/11/2015 cho ông Nguyễn Tấn H (đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 4393/TC đã ký kết ngày 10/10/2019; thỏa thuận sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp số 4393/TC-01 ngày 27/10/2022).
    • + Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất 245, tờ bản đồ số 8, tọa lạc A, B, Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH958777, số vào sổ cấp GCN số CS06291 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh B cấp ngày 16/06/2017 cho bà Trương Thị Thúy O (đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 5254/TC đã ký kết ngày 30/11/2021; thỏa thuận sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp số 5254/TC-01 ngày 27/10/2022).

* Người đại diện theo pháp luật của bị đơn là bà Trương Thị Thúy O đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến nên không có lời khai của bà O trong hồ sơ vụ án. Tuy nhiên tại phiên tòa, người đại diện theo pháp luật của bị đơn là bà Trương Thị Thúy O trình bày: Bà O thừa nhận trước đó vào năm 2016-2017 bà có ký kết hợp đồng tín dụng để vay tiền của Ngân hàng S với tư cách là cá nhân. Đến năm 2019, bà đứng ra với tư cách là người đại diện hợp pháp của pháp nhân (Công ty V) để vay tiền, có ký kết các Hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ và các hợp đồng thế chấp để đảm bảo khoản vay với Ngân hàng SCông ty V.

Tuy nhiên, bà O cho rằng dựa trên sao kê mà Ngân hàng trước đó cung cấp cho bà O thì tính từ ngày 27/10/2022 cho đến ngày ngân hàng khởi kiện thì Công ty 2020 của bà đã chuyển khoản thanh toán được cho Ngân hàng S tổng số tiền 7.515.200.000 đồng (bảy tỷ, năm trăm mười lăm triệu, hai trăm nghìn đồng). Mặt khác bà O cho rằng, các sao kê, giấy nhận nợ mà Ngân hàng S cung cấp cho Toà án không có nội dung ngân hàng chuyển khoản số tiền vay vào tài khoản của Công ty V theo số tài khoản 050112441074. Do đó, nay Ngân hàng S yêu cầu Công ty V thanh toán số tiền nợ gốc là 2.700.000.000 đồng là bà không đồng ý vì bà đã thanh toán được cho Ngân hàng S số tiền 7.515.200.000 đồng và hiện nay không còn dư nợ, trường hợp Ngân hàng S chứng minh được số tiền vay do Công ty V là người thụ hưởng thì Công ty V sẽ thanh toán cho Ngân hàng S số tiền như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngoài ra, tại phiên tòa bà O yêu cầu Toà án cung cấp bản chính các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án gồm: Các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, Giấy nhận nợ, sao kê ngân hàng và toàn bộ các văn bản, tài liệu liên quan đến vụ án cho bà để bà thực hiện việc đối chiếu chữ ký ngay tại phiên tòa xét xử ngày 28/5/2024. Mặt khác, bà O yêu cầu Toà án cho bà tiến hành lập vi bằng toàn bộ hồ sơ, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do phía Ngân hàng S cung cấp để bà nộp cho cơ quan công an để tiến hành điều tra, khởi tố vụ án hình sự.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trương Thị Thúy O đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến nên không có lời khai của bà O trong hồ sơ vụ án. Tuy nhiên tại phiên tòa, bà O trình bày: Bà không đồng ý phát mãi đối với tài sản thế chấp vì hiện nay bà không còn nợ Ngân hàng S. Nếu Ngân hàng S chứng minh được người thụ hưởng khoản vay là Công ty V thì bà O sẽ đồng ý phát mãi tài sản đã thế chấp.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà O là luật sư Lê Thị L trình bày: Không đồng ý về việc phát mãi tài sản thế chấp đối với các quyền sử dụng đất mà bà O đã ký kết để thế chấp đảm bảo cho khoản vay của ngân hàng. Trong trường hợp Ngân hàng S chứng minh được người thụ hưởng khoản vay là Công ty V thì bà O sẽ đồng ý phát mãi tài sản đã thế chấp.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Tấn H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến nên không có lời khai của ông H trong hồ sơ vụ án và không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như ý kiến về việc có hay không yêu cầu độc lập nào.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Ngân hàng S yêu cầu Toà án giải quyết buộc Công ty V thanh toán cho Ngân hàng S số tiền là 2.774.464.110 đồng trong đó (nợ gốc: 2.700.000.000 đồng; Lãi quá hạn: 54.383.014 đồng; Lãi phạt: 20.081.096 đồng) theo đồng tín dụng số [...] ký ngày 27/10/2022 được ký giữa Ngân hàng S – C1Công ty V. Việc ký kết hợp đồng tín dụng số [...] ký ngày 27/10/2022 giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự khi tham gia giao dịch, hợp đồng tín dụng có nội dung và hình thức không trái quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng tín dụng số [...] nêu trên giữa Ngân hàng SCông ty V (đại diện bà Trương Thị Thúy O và ông Nguyễn Tấn H) có hiệu lực pháp luật và là cơ sở phát sinh quyên, nghĩa vụ của hai bên. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ chứng minh ông Nguyễn Tấn H và bà Trương Thị Thúy O đã nhận nợ với tổng số tiền giải ngân của Hợp đồng tín dụng số [...] ký ngày 27/10/2022 là số tiền 2.700.000.000 đồng. Từ khi thực hiện hợp đồng cho đến nay phía bị đơn không thanh toán cho nguyên đơn theo cam kết hợp đồng. Xét, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, mặc dù đã được Ngân hàng thông báo nhắc nợ nhiều lần nhưng phía bị đơn vẫn không có thiện chí thanh toán đầy đủ nợ cho Ngân hàng là đã vi phạm các điều khoản thỏa thuận đã ký kết trong Hợp đồng tín dụng số [...] ký ngày 27/10/2022. Do đó, việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn Công ty V phải có nghĩa vụ trả số tiền gốc 2.700.000.000 đồng là có cơ sở để chấp nhận, phù hợp quy định tại Điều 466 và khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Theo hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết thì phía bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tiền gốc và tiền lãi theo đúng thỏa thuận; hai bên còn thỏa thuận mức lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất quá hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn cho đến khi thanh toán xong khoản tiền lãi đó. Tuy nhiên, đến hạn thanh toán bị đơn không thực hiện đúng là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng

đã ký kết và vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 5, Điều 466 của Bộ luật Dân sự. Xét số tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn theo yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với mức lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn được thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số [...] ký ngày 27/10/2022 và phù hợp với hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật về lãi, lãi suất và phạt vi phạm; khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng và Điều 5 của Hợp đồng tín dụng số [...] ký ngày 27/10/2022 quy định về trả nợ gốc, lãi và phí liên quan.

Với những căn cứ nêu trên, xét thấy hợp đồng được ký kết giữa hai bên là hợp đồng song vụ, quyền và nghĩa vụ của các bên bị ràng buộc theo nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng S về việc buộc bị đơn phải trả tiền tạm tính đến ngày 29/6/2023 là 2.774.464.110 đồng, trong đó nợ gốc là: 2.700.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 54.383.014 đồng, nợ lãi quá hạn là: 20.081.096 đồng và buộc bị đơn phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số [...] ký ngày 27/10/2022 cho đến khi bị đơn trả hết nợ cho Ngân hàng là phù hợp với quy định tại các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự và Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng.

Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Căn cứ Điều 91, 94, 95 và Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2014 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị đơn cung cấp cho Hội đồng xét xử các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án gồm: Giấy nộp tiền ngày 10/10/2019 (bản phô tô); Phiếu chuyển khoản ngày 28/10/2022 (bản phô tô); Bảng liệt kê hợp đồng vay và dư nợ vay ngày 14/4/2023 (bản phô tô); 06 thông tin biến động số dư tài khoản 050112441074 (bản phô tô); sổ phụ tài khoản tiền gửi không kì hạn in ngày 09/5/2023 (bản phô tô); Đơn đề nghị Toà án cung cấp các bản chính các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề ngày 27/5/2024.

Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không cung cấp, bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ nào mới.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện Công ty Trách nhiệm hữu hạn V về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, cả nguyên đơn và bị đơn đều có tư cách pháp nhân, và đều nhằm mục đích kinh doanh, hướng đến lợi nhuận (phía bị đơn vay nhằm mục đích bổ sung vốn lưu

động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh). Căn cứ khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn V có trụ sở tại phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định.

[1.4] Xét yêu cầu của người đại diện hợp pháp của bị đơn tại phiên tòa: Tại phiên tòa, bà O yêu cầu Toà án cung cấp bản chính các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án gồm: Các hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp, Giấy nhận nợ, sao kê ngân hàng và toàn bộ các văn bản, tài liệu liên quan đến vụ án cho bà O để bà thực hiện việc đối chiếu chữ ký ngay tại phiên tòa xét xử ngày 28/5/2024. Mặt khác, bà O yêu cầu Toà án cho bà tiến hành lập vi bằng toàn bộ hồ sơ, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do phía Ngân hàng S cung cấp để bà nộp cho cơ quan công an để tiến hành điều tra, khởi tố vụ án hình sự. Xét thấy, đề nghị này của người đại diện hợp pháp của bị đơn là không phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải thanh toán cho Ngân hàng S tổng số tiền là 3.227.603.835 đồng (bằng chữ: ba tỷ, hai trăm hai mươi bảy triệu, sáu trăm lẻ ba nghìn, tám trăm ba mươi lăm đồng), trong đó: Nợ gốc: 2.700.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 351.735.890 đồng; nợ lãi quá hạn: 175.867.946 đồng và buộc bị đơn phải tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 29/5/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng S tương ứng với số tiền nợ gốc và thời gian chậm trả cho đến khi thanh toán hết tất cả mọi khoản nợ. Đồng thời yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng tín dụng số [...] ký ngày 27/10/2022 và các Giấy nhận nợ số: LD2231100287 ngày 07/11/2022; LD2231400067 ngày 10/11/2022; LD2234200121 ngày 08/12/2022; LD2236100064 ngày 27/12/2022; LD2301600580 ngày 16/01/2023; LD2301800638 ngày 18/01/2023;LD2303000156 ngày 30/01/2023; LD2309500232 ngày 05/04/2023; LD2310900656 ngày 19/04/2023 và Giấy nhận nợ số: LD2311500470 ngày 25/04/2023 được ký kết giữa Ngân hàng SCông ty V trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức, thỏa thuận của các bên về số tiền vay, thời hạn, mục đích, lãi suất vay, lãi suất quá hạn, phương thức trả nợ

phù hợp với các quy định của pháp luật nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết. Tại phiên tòa, người đại diện theo pháp luật của bị đơn thừa nhận phía bị đơn đã ký kết các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp và các khế ước nhận nợ như trên với nguyên đơn.

Căn cứ Điều 117, 401, 402, 403, Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sựnăm 2015 thì Hợp đồng tín dụng số [...] ký ngày 27/10/2022 và các Giấy nhận nợ số: LD2231100287 ngày 07/11/2022; LD2231400067 ngày 10/11/2022; LD2234200121 ngày 08/12/2022; LD2236100064 ngày 27/12/2022; LD2301600580 ngày 16/01/2023; LD2301800638 ngày 18/01/2023;LD2303000156 ngày 30/01/2023; LD2309500232 ngày 05/04/2023; LD2310900656 ngày 19/04/2023 và Giấy nhận nợ số: LD2311500470 ngày 25/04/2023 là phù hợp nên phát sinh quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên đã ký kết. Công ty 2020 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên phát sinh trách nhiệm phải trả nợ gốc và lãi phát sinh từ các hợp đồng tín dụng nêu trên.

Quá trình thực hiện hợp đồng, phía bị đơn đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo cam kết trong hợp đồng tín dụng, liên tục không trả nợ trong nhiều kỳ. Mặc dù Ngân hàng S đã nhiều lần nhắc nhở nhưng bị đơn vẫn không có thiện chí trả nợ. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (28/5/2024), tổng số tiền Công ty 2020 (do bà Trương Thị Thúy O làm đại diện) còn nợ của Ngân hàng S là 3.227.603.835 đồng (bằng chữ: Ba tỷ, hai trăm hai mươi bảy triệu, sáu trăm lẻ ba nghìn, tám trăm ba mươi lăm đồng), trong đó: Nợ gốc: 2.700.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 351.735.890 đồng; nợ lãi quá hạn: 175.867.946 đồng là phù hợp với Điều 463 và 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Việc bà O cho rằng hiện nay Công ty V không còn nợ của Ngân hàng S số tiền nợ vay 2.700.000.000 đồng nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh nên không có căn cứ để chấp nhận.

[4] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc Công ty V phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (29/5/2024) đến ngày Công ty V trả hết nợ: Xét thấy, căn cứ vào các hợp đồng và các khế ước nhận nợ kèm theo cùng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xét thấy sự thỏa thuận về tiền lãi của các bên là tự nguyện, phù hợp với các quy định của pháp luật nên yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp.

[5] Về lãi suất: Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với khoản tiền lãi mà Ngân hàng tính đến ngày 28/5/2024 phát sinh trên số dư nợ gốc 2.700.000.000 đồng: nợ lãi trong hạn: 351.735.890 đồng; nợ lãi quá hạn: 175.867.946 đồng. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng đã chuyển khoản nợ trên thành khoản nợ quá hạn từ ngày 07/5/2023 và buộc bị đơn phải trả lãi theo mức lãi suất thoả thuận tại từng giấy nhận nợ.

Xét thấy, tại mục 8 của các Giấy nhận nợ số: LD2231100287 ký ngày 07/11/2022; LD2231400067 ký ngày 10/11/2022; LD2234200121 ký ngày 08/12/2022; LD2236100064 ký ngày 27/12/2022; LD2301600580 ký ngày 16/01/2023; LD2301800638 ký ngày 18/01/2023;LD2303000156 ký ngày 30/01/2023; LD2309500232 ký ngày 05/04/2023; LD2310900656 ký ngày 19/04/2023 và giấy nhận nợ số: LD2311500470 ký ngày 25/04/2023 giữa hai bên có thoả thuận mức lãi suất. Việc Ngân hàng S áp dụng mức lãi suất và đề nghị bị đơn phải trả là phù hợp với thoả thuận tại mục 8 các Giấy nhận nợ như đã nêu trên, phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, 8, 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn một số quy định pháp luật về lãi suất nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Lãi suất tiếp tục được tính kể từ ngày 29/5/2024 theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số [...] ký ngày 27/10/2022 và mục 8 các Giấy nhận nợ số: LD2231100287 ký ngày 07/11/2022; LD2231400067 ký ngày 10/11/2022; LD2234200121 ký ngày 08/12/2022; LD2236100064 ký ngày 27/12/2022; LD2301600580 ký ngày 16/01/2023; LD2301800638 ký ngày 18/01/2023;LD2303000156 ký ngày 30/01/2023; LD2309500232 ký ngày 05/04/2023; LD2310900656 ký ngày 19/04/2023 và giấy nhận nợ số: LD2311500470 ký ngày 25/04/2023 cho đến khi bị đơn thanh toán xong khoản nợ.

[6] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn Công ty V không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ:

Xét thấy, Hợp đồng thế chấp số 5254/TC đã ký kết ngày 30/11/2021, được công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương ngày 30/11/2021; thỏa thuận sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp số 5254/TC-01 ngày 27/10/2022 được công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương ngày 27/10/2022; Hợp đồng thế chấp số 4393/TC đã ký kết ngày 10/10/2019, được công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương ngày 10/10/2019; Thỏa thuận sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp số 4393/TC-01 ngày 27/10/2022 được công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương ngày 27/10/2022 được ký kết trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc, không bị lừa dối; nội dung, hình thức hợp đồng phù hợp với các quy định của pháp luật và được đăng ký giao dịch bảo đảm; trình tự, thủ tục thế chấp đúng quy định tại các Điều 298, 299, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323 Bộ luật dân sự năm 2015; Luật các tổ chức tín dụng; Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm nên phát sinh hiệu lực và phát sinh nghĩa vụ của bên thế chấp. Vì vậy, nếu Công ty V không trả được nợ thì Ngân hàng S được yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 245, tờ bản đồ số 8, toạ lạc tại phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CH958777, số vào sổ cấp GCN số CS06291 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh B cấp ngày 16/06/2017 cho bà Trương Thị Thúy O và thửa đất số 1076, tờ bản đồ số 48, toạ lạc tại phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CB076704, số vào sổ cấp GCN số CS04566 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh B cấp ngày 27/11/2015 cho ông Nguyễn Tấn H.

[7] Xét ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà O) là không phù hợp nên không chấp nhận.

[8] Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương là hoàn toàn phù hợp nên chấp nhận.

[9] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Cụ thể số tiền bị đơn phải chịu là 96.552.076 đồng (chín mươi sáu triệu, năm trăm năm mươi hai nghìn, không trăm bảy mươi sáu đồng).

[10] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Tổng số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 3.000.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng. Bị đơn có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng S số tiền này.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sựnăm 2015;

Căn cứ Điều 117, 298, 299, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323; 401, 402, 403, 463, 465, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015

Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng

Căn cứ Điều 7, 8, 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn một số quy định pháp luật về lãi suất;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S đối với bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn V về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

  1. Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn V phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tính đến ngày 28/5/2024 tổng cộng là: 3.227.603.835 đồng (bằng chữ: ba tỷ, hai trăm hai mươi bảy triệu, sáu trăm lẻ ba nghìn, tám trăm ba mươi lăm đồng), trong đó: Nợ gốc: 2.700.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 351.735.890 đồng; nợ lãi quá hạn: 175.867.946 đồng.
  2. Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn V phải tiếp tục thanh toán khoản tiền lãi kể từ ngày 29/5/2024 phát sinh trên số nợ gốc theo mức lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng số [...] ký ngày 27/10/2022 và các Giấy nhận nợ số: LD2231100287 ký ngày 07/11/2022; LD2231400067 ký ngày 10/11/2022; LD2234200121 ký ngày 08/12/2022; LD2236100064 ký ngày 27/12/2022; LD2301600580 ký ngày 16/01/2023; LD2301800638 ký ngày 18/01/2023;LD2303000156 ký ngày 30/01/2023; LD2309500232 ký ngày 05/04/2023; LD2310900656 ký ngày 19/04/2023; LD2311500470 ký ngày 25/04/2023 cho đến khi Công ty Trách nhiệm hữu hạn V thanh toán xong khoản nợ gốc.
  3. Trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn V không trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ là:
    • + Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 245, tờ bản đồ số 8, toạ lạc tại phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CH958777, số vào sổ cấp GCN số CS06291 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh B cấp ngày 16/06/2017 cho bà Trương Thị Thúy O; Hợp đồng thế chấp số 5254/TC đã ký kết ngày 30/11/2021, được công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương ngày 30/11/2021; thỏa thuận sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp số 5254/TC-01 ngày 27/10/2022 được công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương ngày 27/10/2022.
    • + Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 1076, tờ bản đồ số 48, toạ lạc tại phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CB076704, số vào sổ cấp GCN số CS04566 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh B cấp ngày 27/11/2015 cho ông Nguyễn Tấn H; Hợp đồng thế chấp số 4393/TC đã ký kết ngày 10/10/2019, được công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương ngày 10/10/2019. Thỏa thuận sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp số 4393/TC-01 ngày 27/10/2022 được công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương ngày 27/10/2022.
  4. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn V phải chịu là 96.552.076 đồng (chín mươi sáu triệu, năm trăm năm mươi hai nghìn, không trăm bảy mươi sáu đồng).

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 43.744.641 đồng (bốn mươi ba triệu, bảy trăm bốn mươi bốn nghìn, sáu trăm bốn mươi mốt đồng) theo biên lai thu số AA/2021/0011623 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bến Cát (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương.

  1. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Công ty Trách nhiệm hữu hạn V phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
  2. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (hợp nhất số: 32/VBHN-VPQH ngày 07/12/2020)./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VT.

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Bà Đậu Thị Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/KDTM-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 06/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chap hop dong tin dung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger