Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Đ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/KDTM-ST

Ngày: 26/7/2024.

V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tạ Văn Nhật
  2. Bà Nguyễn Thị Hồ

-Thư ký phiên toà: Ông Phạm Như Hoàng Hải- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý 06/2024/TLST- DS ngày 10 tháng 05 năm 2024 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-DTM ngày 10 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1); Địa chỉ trụ sở: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D- Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Phạm Tuấn A - Chức vụ: Phó giám đốc Trung tâm xử lý nợ Pháp lý.

Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Đỗ Đăng Đ - Chức vụ: Cán bộ xử lý nợ; Có mặt.

- Bị đơn: Công ty TNHH X; Địa chỉ trụ sở: Số B, đường L, xã L, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Xuân Q- Chức vụ: Giám đốc; Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đinh Xuân Q, sinh năm 1992; Địa chỉ: Cụm A, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thì:

Ngày 19/9/2022, Công ty TNHH X (sau đây gọi tắt là Công ty X) và Ngân hàng TMCP V ký kết Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 190922-6843946-AUTO-1/HĐ. V1 đã giải ngân cho Công ty X số tiền 279.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi chín triệu đồng) theo Khế ước nhận nợ số:190922-6843946-AUTO-1; Mục đích sử dụng tiền vay: Mua ô tô mới phục vụ mục đích đi lại theo Hợp đồng mua bán xe ô tô số 2908-04/2022/HĐMB-TG. Lãi suất cho vay tại thời điềm giải ngân là: 9,30 %/năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày). Lãi suất cho vay trọng hạn được cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên. Hết thời hạn 12 tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/lần. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi, tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Thời hạn vay: 71 tháng tính từ ngày 19/09/2022 đến ngày 19/08/2028.

Tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay của Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 190922-6843946-AUTO-1/HĐ là: 01 chiếc ô tô nhãn hiệu VINFAST, số loại Fadil, số khung: RPXCA2FACNV010426; số máy: LV7221240241, BKS: 30H-840.47 đứng tên Công ty TNHH X. Xác lập thế chấp tại V1 theo Hợp đồng cho vay và Hợp đồng thế chấp đã ký kết với V1. Việc thế chấp tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm.

Ngày 21/6/2022, Công ty XNgân hàng TMCP V ký kết Hợp đồng cho vay hạn mức số 200622-6843946-01-SME. Mục đích sử dụng tiền vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động bán buôn gỗ các loại. Vào các ngày 19/12, 20/12 và 21/12/2022, V1 đã giải ngân cho Công ty X tổng số tiền 500.000.000 đồng theo các khế ước nhận nợ: Khế ước nhận nợ số: 191222-6843946-ONL-1 ngày 19/12/2022. Số tiền nhận nợ: 100.000.000 đồng. Thời hạn vay: 06 tháng, từ ngày 19/12/2022 đến ngày 19/06/2023. Khế ước nhận nợ số: 201222-6843946-ONL-2 ngày 20/12/2022. Số tiền nhận nợ: 200.000.000 đồng. Thời hạn vay: 06 tháng, từ ngày 20/12/2022 đến ngày 20/06/2023. Khế ước nhận nợ số: 211222-6843946-ONL-3 ngày 21/12/2022. Số tiền nhận nợ: 200.000.000 đồng. Thời hạn vay: 06 tháng, từ ngày 21/12/2022 đến ngày 21/06/2023. Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân đối với cả 3 khế ước nhận nợ là 20,70%/năm. Lãi suất cho vay được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/lần. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: Bằng

150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Biện pháp bảo đảm tiền vay của Hợp đồng cho vay hạn mức số 200622-6843946-01-SME các bên thống nhất áp dụng biện pháp Bảo lãnh của ông Đinh Xuân Q Hợp đồng bảo lãnh số 01/HĐBL ký ngày 21/06/2022. Ông Đinh Xuân Q đã đồng ý bằng toàn bộ tài sản của mình bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho bên được bảo lãnh là Công ty X trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ phát sinh từ Hợp đồng cho vay hạn mức số 200622-6843946-01-SME ngày 20/06/2022 và các hợp đồng, văn bản tín dụng bao gồm cả các phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung, khế ước nhận nợ và văn bản liên quan.

Quá trình thực hiện Hợp đồng, Công ty X đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, V1 đã nhiều lần làm việc với Công ty X để đôn đốc yêu cầu trả nợ, gửi thông báo nợ quá hạn, thông báo yêu cầu tự nguyện bàn giao tài sản bảo đảm cho Ngân hàng xử lý theo thỏa thuận nhưng Công ty X vẫn không thực hiện.

Vì vậy, V1 khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết các yêu cầu sau:

  1. Buộc Công ty X phải có nghĩa vụ trả cho V1 số tiền cụ thể như sau:
    • Số tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 190922-6843946-AUTO-1/HĐ ngày 19/9/2022 tạm tính đến ngày 26/7/2024 là: 311.355.030 đồng (Bằng chữ: Ba trăm mười một triệu ba trăm năm mươi năm nghìn không trăm ba mươi đồng), trong đó: nợ gốc là: 255.422.538 đồng, nợ lãi trong hạn: 8.190.010 đồng, lãi quá hạn: 44.433.025 đồng, phạt chậm trả: 3.309.367 đồng.
    • Số tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 200622-6843946-01-SME ngày 21/6/2022, theo các khế ước nhận nợ số: 191222-6843946-ONL-1 ngày 19/12/2022, khế ước nhận nợ số 201222-6843946-ONL-2 ngày 20/12/2022 và khế ước nhận nợ số 211222-6843946-ONL-3 ngày 21/12/2022 tạm tính đến ngày 26/7/2024 là: 671.459.285 đồng (Bằng chữ: Sáu trăm bảy mươi mốt triệu bốn trăm năm mươi chín nghìn hai trăm tám mươi lăm đồng), trong đó: nợ gốc là: 499.998.663 đồng, nợ lãi trong hạn: 19.170.138 đồ ng, lãi quá hạn: 141.531.595 đồng, phạt chậm trả: 10.758.889 đồng.
  2. Buộc Công ty X tiếp tục phải trả nợ lãi phát sinh theo quy định trong Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ đã ký kết, kể từ ngày 27/7/2024 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
  3. Nếu Công ty X không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì buộc bên bảo lãnh là ông Đinh Xuân Q phải có trách nhiệm trả nợ thay Công ty X. Nếu Công ty X không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, ông Đinh Xuân Q không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay Công ty X, thì V1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản là thế chấp là: 01 chiếc ô tô nhãn hiệu VINFAST, loại Fadil, số khung

RPXCA2FACNV010426; số máy: LV7221240241; BKS: 30H-840.47 đăng ký chủ sở hữu là Công ty TNHH X, để thu hồi nợ.

Trong trường hợp nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho V1 thì Công ty X vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho V1, ông Đinh Xuân Q vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay Công ty X cho đến khi tất toán toàn bộ các khoản vay. V1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án áp dụng các biện pháp cần thiết để kê biên, xử lý các tài sản khác thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH X và của ông Đinh Xuân Q để thu hồi đủ số tiền còn nợ theo Bản án/ Quyết định có hiệu lực của Tòa án.

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn trình bày: thừa nhận Công ty TNHH X đã được Ngân hàng TMCP V cho vay số tiền 279.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi chín triệu đồng) theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô 190922-6843946-AUTO-1/HĐ ngày 19/9/2022 và 500.000.000 đồng theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 200622-6843946-01-SME ngày 21/6/2022, cụ thể theo các khế ước nhận nợ số: 191222-6843946-ONL-1 ngày 19/12/2022, khế ước nhận nợ số 201222-6843946-ONL-2 ngày 20/12/2022 và khế ước nhận nợ số 211222-6843946-ONL-3 ngày 21/12/2022.

Sau khi được giải ngân, do làm ăn thất thoát nên Công ty X không thực hiện được nghĩa vụ theo đúng thỏa thuận. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện đòi Công ty X trả số tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 190922-6843946-AUTO-1/HĐ ngày 19/9/2022 tạm tính đến ngày 26/7/2024 là: 311.355.030 đồng (Bằng chữ: Ba trăm mười một triệu ba trăm năm mươi năm nghìn không trăm ba mươi đồng), trong đó: nợ gốc là: 255.422.538 đồng, nợ lãi trong hạn: 8.190.010 đồng, lãi quá hạn: 44.433.025 đồng, phạt chậm trả: 3.309.367 đồng và số tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 200622-6843946-01-SME ngày 21/6/2022, cụ thể tại các khế ước nhận nợ số: 191222-6843946-ONL-1 ngày 19/12/2022, khế ước nhận nợ số 201222-6843946-ONL-2 ngày 20/12/2022 và khế ước nhận nợ số 211222-6843946-ONL-3 ngày 21/12/2022 tạm tính đến ngày 26/7/2024 là: 671.459.285 đồng (Bằng chữ: Sáu trăm bảy mươi mốt triệu bốn trăm năm mươi chín nghìn hai trăm tám mươi lăm đồng), trong đó: nợ gốc là: 499.998.663 đồng, nợ lãi trong hạn: 19.170.138 đồng, lãi quá hạn: 141.531.595 đồng, phạt chậm trả: 10.758.889 đồng, là đúng.

Đại diện bị đơn cũng thừa nhận Công ty X đã ký Hợp đồng thế chấp tài sản là chiếc ô tô nhãn hiệu VINFAST, loại Fadil, số khung RPXCA2FACNV010426; số máy: LV7221240241; BKS: 30H-840.47 đứng tên Công ty TNHH X để đảm bảo cho khoản vay của Hợp đồng 190922-6843946-AUTO-1/HĐ ngày 19/9/2022. Vào khoảng cuối năm 2023, do cần tiền trả nợ nên Công ty đã vay số tiền 100 triệu đồng của một người tên là Nguyễn Đăng T khoảng 30 tuổi ( không rõ địa chỉ). Sau đó, do không trả được tiền nên anh T đã

giữ xe và mang đi đâu không biết. Từ đó đến nay Công ty không liên hệ được với anh T để trả tiền và lấy xe về.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Xuân Q trình bày: Ngày 21/06/2022 ông đã ký Hợp đồng bảo lãnh số 01/HĐBL, với nội dung đồng ý bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho bên được bảo lãnh là Công ty X trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ phát sinh từ Hợp đồng cho vay hạn mức số 200622-6843946-01-SME ngày 20/06/2022 và các hợp đồng, văn bản tín dụng bao gồm cả các phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung, khế ước nhận nợ và văn bản liên quan. Nay Ngân hàng khởi kiện đòi nợ Công ty X, ông vẫn giữ nguyên quan điểm không thay đổi gì.

Tại phiên tòa: Đại diện nguyên đơn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện. Đối với tài sản bảo đảm là chiếc xe ô tô nhãn hiệu VINFAST, loại Fadil, số khung RPXCA2FACNV010426; số máy: LV7221240241; BKS: 30H-840.47 đứng tên Công ty TNHH X, mặc dù tài sản bảo đảm hiện nay không rõ ở đâu và do ai chiếm giữ nhưng nguyên đơn vẫn đề nghị HĐXX chấp nhận cho nguyên đơn quyền được yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thu giữ, kê biên và phát mại để thanh toán khoản nợ mà Công ty X có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn theo đúng Hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm đã ký kết.

Đại diện bị đơn đồng ý chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đối với số tiền nợ lãi theo Hợp đồng tín dụng và các Khế ước nhận nợ, mặc dù nguyên đơn không điều chỉnh lãi suất theo thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng đã ký kết nhưng bị đơn vẫn tự nguyện đồng ý trả nguyên đơn toàn bộ số tiền lãi như nguyên đơn đã yêu cầu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Đinh Xuân Q trình bày: Liên quan đến nghĩa vụ trả nợ của ông thay cho Công ty X trên cơ sở thỏa thuận tại Hợp đồng bảo lãnh thì hiện tại ông không có bất cứ tài sản riêng hay tài sản chung trong khối tài sản với người khác nên nếu Tòa án có chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc ông phải trả nợ thay cho Công ty X thì ông cũng không có tài sản gì để thực hiện nghĩa vụ này. Vì vậy, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải chịu mức lãi suất quá hạn kể từ thời điểm quá hạn đến ngày xét xử theo mức lãi suất không điều chỉnh thì ông cũng tự nguyện nhất trí và không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng, các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đối với số tiền lãi quá hạn được tính theo mức lãi suất không điều chỉnh kể từ thời điểm quá hạn đến ngày xét xử là không đúng thỏa thuận ban đầu của các bên nhưng đại diện bị đơn và người liên quan đều tự nguyện chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử công

nhận sự tự nguyện của các đương sự. Buộc bị đơn tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Nếu bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì buộc bên bảo lãnh là ông Đinh Xuân Q phải có trách nhiệm trả nợ thay bị đơn. Chấp nhận cho nguyên đơn quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bị đơn để thu hồi khoản nợ cho nguyên đơn. Buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng:
    1. [1.1] Ngân hàng TMCP VCông ty TNHH X xác lập Hợp đồng tín dụng nhằm mục đích mua xe ô tô và kinh doanh. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty TNHH X không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng thỏa thuận. Ngân hàng TMCP V khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng là nơi có trụ sở của Công ty TNHH X. Vì vậy, Tòa án xác định tranh chấp phát sinh giữa các bên là tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo quy định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội theo các quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
    2. [1.2] Thời hiệu khởi kiện: Căn cứ thỏa thuận giữa các bên tại khoản 1, Điều 9 Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 190922-6843946-AUTO-1/HĐ ngày 19/9/2022 và tại khoản 1, Điều 16 Hợp đồng cho vay hạn mức số 200622-6843946-01-SME ngày 21/6/2022 Hợp đồng tín dụng về hiệu lực của Hợp đồng thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vẫn trong thời hiệu khởi kiện.
    3. [1.3] Luật áp dụng: Giao dịch giữa các bên được xác lập từ năm 2022, thời điểm Bộ luật dân sự 2015 và Luật các tổ chức tín dụng 2010 đang có hiệu lực pháp luật, do vậy khi giải quyết tranh chấp, Tòa án căn cứ các quy định của Bộ luật dân sự 2015, Luật các tổ chức tín dụng 2010, các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực tại thời điểm xác lập giao dịch để xem xét về nội dung tranh chấp.
  2. Về nội dung
    1. [2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng.
      1. [2.1.1] Căn cứ các tài liệu do nguyên đơn cung cấp và sự thừa nhận của bị đơn, xác định Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 190922-6843946-AUTO-1/HĐ ngày 19/9/2022 và Hợp đồng cho vay hạn mức số 200622-6843946-01-SME ngày 21/6/2022 ký kết giữa Ngân hàng TMCP V với Công ty TNHH X được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có hình thức và nội dung

phù hợp quy định tại Điều 119, 398 Bộ luật dân sự 2015. Khi thực hiện giao dịch, các bên đều có đủ điều kiện và tự nguyện. Do đó, Hợp đồng tín dụng nói trên là hợp pháp và có hiệu lực thi hành đối với các bên. Quá trình thực hiện Hợp đồng, Công ty TNHH X vi phạm thỏa thuận về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi. Vì vậy, V1 khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH X thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi là có căn cứ, được chấp nhận.

  1. [2.1.2] Xét yêu cầu đòi số tiền nợ gốc và lãi của nguyên đơn:

Trên cơ sở Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 190922-6843946-AUTO-1/HĐ ngày 19/9/2022 và các khế ước nhận nợ số: 191222-6843946-ONL-1 ngày 19/12/2022, khế ước nhận nợ số 201222-6843946-ONL-2 ngày 20/12/2022 và khế ước nhận nợ số 211222-6843946-ONL-3 ngày 21/12/2022 xác định được tổng số tiền gốc V1 đã giải ngân cho Công ty TNHH X là 779.000.000 đồng.

Căn cứ bảng chiết tính lãi ngày 26/7/2024 do V1 cung cấp và lời thừa nhận của Công ty TNHH X xác định được, tính đến ngày 15/4/2023, Công ty TNHH X đã trả số tiền nợ gốc theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 190922-6843946-AUTO-1/HĐ ngày 19/9/2022 là 23.577.462 đồng và tính đến ngày 01/5/2024, chỉ trả được số tiền nợ gốc theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 200622-6843946-01-SME ngày 21/6/2022 là 1.337 đồng đối với số tiền được giải ngân của khế ước nhận nợ số: 191222-6843946-ONL-1 ngày 19/12/2022 (số tiền gốc giải ngân là 100 triệu đồng). Như vậy, số tiền nợ gốc còn chưa trả theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô là 255.422.538 đồng. Số tiền nợ gốc còn chưa trả theo Hợp đồng cho vay hạn mức là 499.998.663 đồng. Tổng số tiền nợ gốc Công ty X còn phải trả V1 là 755.421.201 đồng.

Đối với số tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô ngày 19/9/2022: Theo bảng tính lãi thì đến ngày 15/4/2023, Công ty X đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ lãi trong hạn với tổng số tiền 11.973.767 đồng. Từ đó cho đến ngày khoản nợ bị quá hạn là ngày 15/7/2023, Công ty X không trả thêm được bất cứ khoản tiền lãi nào. Theo bảng tính lãi do V1 cung cấp thì tính đến ngày 26/7/2024 số tiền lãi trong hạn còn phải trả là 8.190.010 đồng, lãi quá hạn: 44.433.025 đồng, phạt chậm trả lãi: 3.309.367 đồng.

Đối với số tiền lãi phát sinh theo các khế ước nhận nợ của Hợp đồng cho vay hạn mức. Các khoản vay này bị đơn không trả được nợ gốc. Tiền lãi trong hạn đã trả được tính đến ngày 15/4/2023 được 24.991.506 đồng. Theo bảng tính lãi và các Quyết định áp dụng lãi suất do V1 cung cấp thì tính đến ngày 26/7/2024 số tiền lãi trong hạn còn phải trả là: 19.170.138 đồng, lãi quá hạn: 141.531.595 đồng, phạt chậm trả: 10.758.889 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy, khoản tiền lãi quá hạn được tính theo mức lãi suất không điều chỉnh kể từ thời điểm quá hạn cho đến ngày xét xử là không phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ. Tuy nhiên, tại phiên tòa, đại diện bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều biết, hiểu rõ và tự nguyện đồng ý nhận nghĩa vụ trả nguyên đơn số tiền lãi này nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của đương sự và chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả tổng số tiền lãi quá hạn tính đến ngày 26/7/2024 là 185.964.620 đồng.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả số tiền phạt chậm trả lãi. Căn cứ thỏa thuận của các đương sự thể hiện tại mục 2.4, phần 2 Điều 2 của Hợp đồng cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp ô tô ngày 19/09/2022 và Hợp đồng cho vay hạn mức ngày 20/6/2022 các bên đã thỏa thuận “ lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả lãi”. Xét thấy thỏa thuận trên của các bên phù hợp với quy định tại điểm a khoản 5 Điều 466 của Bộ luật dân sự 2015 nên được chấp nhận. Tổng số tiền lãi do chậm trả lãi của Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ từ khi quá hạn trả lãi tính đến ngày 26/7/2024 là 14.068.256 đồng.

Như vậy: Tổng số tiền Công ty X phải có nghĩa vụ trả V1 là: 982.814.315 đồng.

  1. [2.1.3] Kể từ ngày 27/7/2024 cho đến khi tất toán toàn bộ khoản nợ, Bị đơn sẽ phải chịu lãi phát sinh trên dư nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ.
    1. [2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Đinh Xuân Q phải có trách nhiệm trả nợ thay Công ty X, nếu Công ty X không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ:

Căn cứ Hợp đồng bảo lãnh số 01/HĐBL ký ngày 21/06/2022 ông Đinh Xuân Q đã đồng ý bằng toàn bộ tài sản của mình bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho bên được bảo lãnh là Công ty X trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ phát sinh từ Hợp đồng cho vay hạn mức số 200622-6843946-01-SME ngày 20/06/2022 và các hợp đồng, văn bản tín dụng bao gồm cả các phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung, khế ước nhận nợ và văn bản liên quan. Vì vậy, trường hợp Công ty X không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ phát sinh từ Hợp đồng cho vay hạn mức và các khế ước nhận nợ số: 191222-6843946-ONL-1 ngày 19/12/2022, khế ước nhận nợ số 201222-6843946-ONL-2 ngày 20/12/2022 và khế ước nhận nợ số 211222-6843946-ONL-3 ngày 21/12/2022 thì ông Đinh Xuân Q phải có trách nhiệm bằng tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình trả nợ thay Công ty TNHH X là đúng pháp luật.

    1. [2.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc đề nghị Tòa án tuyên nguyên đơn có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ thanh toán của bị đơn đối với khoản vay trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Nhận thấy: Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 190922-6843946-AUTO-1/HĐ ngày 19/9/2022, đối tượng thế chấp là 01 chiếc ô tô nhãn hiệu VINFAST, loại Fadil, số khung RPXCA2FACNV010426; số máy: LV7221240241; BKS: 30H-840.47 đứng tên Công ty X, để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty X theo Khế ước nhận nợ giữa Công ty XV1, có nội dung và hình thức phù hợp các quy định của pháp luật, là thỏa thuận hợp pháp. Việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm. Vì vậy, nếu bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì tài sản đã thế chấp để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của bị đơn sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật để thu hồi khoản nợ theo đúng thỏa thuận tại Hợp đồng. Mặc dù tài sản thế chấp hiện nay không xác định được là ở đâu và do ai trực tiếp quản lý, sử dụng nhưng việc thế chấp đã được đăng ký nên căn cứ Điều 297, khoản 2 Điều 319 của Bộ luật dân sự 2015 quy định về hiệu lực của giao dịch bảo đảm, hiệu lực của thế chấp tài sản đã quy định “Thế chấp tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký” và “Khi biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì bên nhận bảo đảm được quyền truy đòi tài sản bảo đảm và được quyền thanh toán theo quy định tại Điều 308 của Bộ luật này và luật khác có liên quan”. Vì vậy, yêu cầu của nguyên đơn về việc đề nghị Tòa án tuyên quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp để thanh toán cho khoản nợ đã được bảo đảm là có căn cứ và được chấp nhận.

  1. [3] Về án phí: Công ty TNHH X phải chịu án phí kinh doanh thương mại theo quy định.
  2. [4] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 116, 117, 119, 292, 297, 298, 299, 317, 319, 323, 335, 336, 342 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 4 Luật thương mại 2005;

Căn cứ vào Điều 30; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 266, 271, 273, 278 và 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 91, Khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức Tín dụng 2010;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V đối với Công ty TNHH X.

Buộc Công ty TNHH X phải có nghĩa vụ trả cho V1 số tiền cụ thể như sau:

  • Số tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 190922-6843946-AUTO-1/HĐ ngày 19/9/2022 tạm tính đến ngày 26/7/2024 là: 311.355.030 đồng (Bằng chữ: Ba trăm mười một triệu ba trăm năm mươi năm nghìn không trăm ba mươi đồng), trong đó: nợ gốc là: 255.422.538 đồng, nợ lãi trong hạn: 8.190.010 đồ ng, lãi quá hạn: 44.433.025 đồng, phạt chậm trả: 3.309.367 đồng.
  • Số tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 200622-6843946-01-SME ngày 21/6/2022, theo các khế ước nhận nợ số: 191222-6843946-ONL-1 ngày 19/12/2022, khế ước nhận nợ số 201222-6843946-ONL-2 ngày 20/12/2022 và khế ước nhận nợ số 211222-6843946-ONL-3 ngày 21/12/2022 tạm tính đến ngày 26/7/2024 là: 671.459.285 đồng (Bằng chữ: Sáu trăm bảy mươi mốt triệu bốn trăm năm mươi chín nghìn hai trăm tám mươi lăm đồng), trong đó: nợ gốc là: 499.998.663 đồng, nợ lãi trong hạn: 19.170.138 đồ ng, lãi quá hạn: 141.531.595 đồng, phạt chậm trả: 10.758.889 đồng.

Kể từ ngày 27/7/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, Công ty TNHH X tiếp tục phải thanh toán phần nợ lãi phát sinh theo quy định trong Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ đã ký kết.

(Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay).

  1. Nếu Công ty TNHH X không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì buộc bên bảo lãnh là ông Đinh Xuân Q phải có trách nhiệm trả nợ thay Công ty TNHH X.
  2. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật Công ty TNHH X không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, ông Đinh Xuân Q không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay Công ty TNHH X, thì V1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản là thế chấp là: 01 chiếc ô tô nhãn hiệu VINFAST, loại Fadil, số khung RPXCA2FACNV010426; số máy:

LV7221240241; BKS: 30H-840.47 đứng tên Công ty TNHH X, để thu hồi nợ.

  1. Về án phí: Công ty TNHH X phải chịu 41.484.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Trả lại Ngân hàng TMCP V 19.200.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010191 ngày 10/5/2023.

  1. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện Đ;
  • - VKSND huyện Đ;
  • - TANDTP. Hà Nội;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/KDTM-ST ngày 26/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 06/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu KK của NĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger