|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 06/2024/HNGĐ-ST Ngày 26/4/2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nông Văn Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Văn Xuân.
- Bà Nguyễn Thị Minh Tâm.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hương Ly- Thư ký Toà án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tham gia phiên tòa: Bà Lục Thị Liễu - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 115/2023/TLST-HNGĐ ngày 24/11/2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXHNGĐ - ST ngày 10/4/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lương Thị H, sinh năm 1998;
- Bị đơn: Anh Nông Công G, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng. (Vắng mặt có lý do)
Nơi ĐKHKTT: xóm Đ - P, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
Chỗ ở hiện nay: xóm B, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng. (Vắng mặt có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 23 tháng 11 năm 2023 và các lời khai tiếp theo tại Tòa, nguyên đơn chị H trình bày: Chị và anh Nông Công G sau thời gian tìm hiểu thì tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương vào năm 2017, sau đó tiến hành đăng ký kết hôn ngày 08/01/2018 tại UBND xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Việc đăng ký kết hôn do hai vợ chồng tự nguyện thực hiện. Thời gian đầu vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc và có với nhau một con chung tên là Nông Chí K, sinh ngày 05/12/2017, hiện nay con đang sống chung với anh G. Tuy nhiên sau khi chị đi làm công nhân được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh G nghi ngờ chị ngoại tình nên mỗi lần cãi nhau là anh G lại dọa nạt và xúc phạm danh dự của chị. Từ đó cuộc sống vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng. Vì vậy chị và anh G đã ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Trong thời gian ly thân hai bên cũng không hỏi thăm, không có ý định hàn gắn lại vợ chồng. Giữa hai vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung. Nay chị xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn anh G. Sau khi ly hôn, anh G sẽ tiếp tục nuôi con chung và chị cấp dưỡng mỗi tháng 1.500.000đ. Các vấn đề khác không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 03/4/2024 bị đơn Nông Công G trình bày: Anh kết hôn với chị H năm 2017 và đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện T ngày 08/01/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc và có với nhau 01 con chung tên là Nông Chí K sinh ngày 05/12/2017, hiện nay con đang sống với anh. Tuy nhiên sau khi chị H đi làm công nhân thì anh phát hiện vợ có người đàn ông khác, từ đó vợ không về nhà thăm chồng con, cũng không gửi tiền về giúp nuôi con. Anh xác định tình cảm vợ chồng đã không còn nên nhất trí ly hôn theo yêu cầu của chị H. Sau khi ly hôn, anh G sẽ tiếp tục nuôi con chung và yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ cho đến khi con đủ 18 tuổi. Các vấn đề khác không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời anh có đơn xin xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa thông qua tóm tắt nội dung và các yêu cầu cần giải quyết của vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký trong quá trình giải quyết vụ án và đương sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo và chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, 227, 228, 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, các Điều 53, 56, 57, 58 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị H được ly hôn anh G. Giao con chung cho anh G chăm sóc và buộc chị H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000đ. Tài sản chung, nợ chung do không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí: Buộc chị H phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm Hôn nhân gia đình và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con để sung quỹ Nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Chị H và anh G có nơi cư trú tại xóm Đ - P, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Nay chị H khởi kiện xin ly hôn với anh G, sau khi ly hôn anh G sẽ trực tiếp nuôi con chung và chị H cấp dưỡng mỗi tháng 1.500.000đ. Vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan hệ tranh chấp cần giải quyết là quan hệ ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị H và anh G có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và xét xử vắng mặt. Hai bên đương sự cũng đã có lời khai thể hiện ý kiến của cá nhân mình. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn mở phiên tòa giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh G đăng ký kết hôn ngày 08 tháng 01 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Việc đăng ký là tự nguyện, đúng theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định tại các Điều 8 và 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Như vậy, việc kết hôn giữa chị H và anh G là hợp pháp và quan hệ vợ chồng được công nhận kể từ ngày đi đăng ký kết hôn.
Thời gian đầu vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc và có với nhau 01 con chung. Tuy nhiên, sau khi chị H đi làm công nhân được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn; hai vợ nghi ngờ không còn tin tưởng nhau, dẫn đến bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung và đã ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Mâu thuẫn này cũng được anh G xác nhận và nhất trí ly hôn theo yêu cầu của chị H. Xét thấy cuộc sống vợ chồng chị H, anh G không thể hàn gắn lại được, gia đình không còn hạnh phúc, tình trạng hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử cho chị H được ly hôn là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.
[3]. Về con chung: Giữa chị H và anh G có 01 con chung hiện đang sống với anh G. Trong quá trình giải quyết vụ án cả chị H và anh G đều nhất trí để anh G tiếp tục nuôi con. Xét thấy sự thỏa thuận nuôi con của anh G, chị H là tự nguyện và không vi phạm điều cấm nên được chấp nhận. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh G yêu cầu mức cấp dưỡng mỗi tháng là 2.000.000đ, tuy nhiên Hội đồng xét xử thấy hơi cao, vì hiện nay chị H đang làm công nhân, công việc, thu nhập sẽ không ổn định được lâu dài. Xét thấy mức 1.500.000đ mỗi tháng mà chị H đưa ra là phù hợp nên được chấp nhận.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nông Công G và chị Lương Thị H đều xác nhận không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đ tiền án phí cấp dưỡng để sung quỹ Nhà nước. Xác nhận chị H đã nộp 300.000đ theo biên lai số 0002617 ngày 24/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trùng Khánh, nay còn phải nộp thêm số tiền 300.000đ.
[6] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị H được ly hôn anh Nông Công G.
- Về con chung: Giao cháu Nông Chí K, sinh ngày 05 tháng 12 năm 2017 cho anh G trực tiếp chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành (hoặc đến khi có Bản án, quyết định khác của Tòa án thay thế). Buộc chị Lương Thị H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000đ, phương thức cấp dưỡng theo tháng, thời điểm cấp dưỡng từ tháng 5 năm 2024.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đ tiền án phí cấp dưỡng để sung quỹ Nhà nước. Xác nhận chị H đã nộp 300.000đ theo biên lai số 0002617 ngày 24/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trùng Khánh, nay còn phải nộp thêm số tiền 300.000đ.
- Về quyền kháng cáo: Chị Lương Thị H và anh Nông Công G có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt Bản án hợp lệ./.
Sau khi ly hôn, chị H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị thực hiện quyền này.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nông Văn Tùng |
Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 06/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong thời gian ly thân hai bên cũng không hỏi thăm, không có ý định hàn gắn lại vợ chồng. Giữa hai vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung. Nay chị xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn anh G
