Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HNGĐ – ST

Ngày: 26 tháng 4 năm 2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tân Khải Nhân;
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thìn và ông Hà Đức Trưởng;
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hải Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình N – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2024/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024.

Nguyên đơn: Anh Đinh Văn T, sinh ngày 05/10/1984 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Tổ B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông;

Bị đơn: Chị Hà Thị Thu H, sinh ngày 12/6/1992 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/02/2024 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn anh Đinh Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ngày 26/9/2014, anh và chị Hà Thị Thu H đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn dẫn đến gia đình không hòa thuận, hạnh phúc

Anh, chị đã ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, anh đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, cho anh ly hôn với chị H.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 (một) con chung là cháu: Đinh Hà Bảo C, sinh ngày 02/4/2014. Cháu Bảo C đang sinh sống, học tập ổn định cùng với chị H, khi ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao cháu Bảo C cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; anh T không phải thực hiện nghĩa vụ dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2]. Về phía bị đơn chị Nguyễn Thị Thu H1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn vợ chồng chị có thời gian tự nguyện tìm hiểu. Chị H1 xác nhận thời điểm đăng ký kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng, thời gian ly thân như anh T1 trình bày là đúng. Nay anh T1 xin ly hôn, chị đồng ý.

Về con chung: Chị H1 xác nhận vợ chồng có con chung là cháu: Đinh Hà Bảo C, sinh ngày 02/4/2014, cháu Bảo C đang sinh sống, học tập ổn định cùng với chị, khi ly hôn chị đồng ý với quan điểm của anh T1 về việc chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, Nguyên đơn, Bị đơn đã chấp hành là đúng quy định của pháp luật;

Về nội dung giải quyết vụ án: Anh T1 và chị H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống chung vợ chồng hai bên không hòa thuận, hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T1 và chị H1 là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55, Điều 57 Luật Hôn nhân gia đình, ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh T1 và chị H1. Về con chung: đề nghị áp dụng các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình ghi nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự, giao cháu Đinh Hà Bảo C cho chị H1 được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh T1 không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con vì chị H1 không yêu cầu. Đối với quan hệ về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp, Nguyên đơn, Bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Về án phí dân sự, anh T1, chị H1 phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Anh T1 có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ cho anh ly hôn với chị H1, căn cứ khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn có đề nghị xin được vắng mặt tại phiên họp, hòa giải và phiên xét xử, Bị đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Vì vậy, Tòa án xác định đây là vụ án không thể tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1, Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, anh T1, chị H1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào, khoản 1, Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn xét xử vắng mặt Nguyên đơn là đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh T1 và chị H1 trước khi kết hôn có thời gian tự nguyện tìm hiểu. Ngày 26/9/2014, hai bên đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Trong quá trình xác minh, thu thập chứng cứ tại nơi Bị đơn cư trú, Tòa án đã làm rõ vợ chồng anh, chị đã ly thân, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau. Bên cạnh đó, anh T1, chị H1 cũng xác nhận vợ chồng đã ly thân từ năm 2015 cho đến nay, cùng có yêu cầu xin được ly hôn.

Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa anh T1, chị H1 đã đến mức trầm trọng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận việc yêu cầu xin ly hôn của anh T1 và chị H1 là phù hợp với quy định tại Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3]. Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh, chị có 01 (một) con chung là cháu: Đinh Hà Bảo C, sinh ngày 02/4/2014. Hiện cháu đang sinh sống, học tập ổn định cùng với chị H1. Tòa án đã xem xét, lấy ý kiến của chính quyền địa phương, khu dân cư nơi mẹ con chị H1 đang cư trú để xác định điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung của chị H1, bên cạnh đó, bản thân cháu Bảo C cũng có nguyện vọng ở cùng với mẹ, tiếp đó, anh T1 và chị H1 cũng đều thống nhất giao con chung cho chị H1 là người trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên, anh T1 không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì vậy, căn cứ vào những đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận thỏa thuận về việc nuôi con của anh T1, chị H1 là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khi anh T1, chị H1 có yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng nuôi con thì anh, chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định của pháp luật.

[4]. Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Anh T1, chị H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Tòa án không xem xét, giải quyết trong vụ án này; trong trường hợp sau này anh chị phát sinh yêu cầu thì anh, chị có quyền được giải quyết bằng một vụ, việc khác.

[5]. Về án phí: Căn cứ điểm a, khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 và hướng dẫn tại tiết 11, mục IV của văn bản số: 02/TANDTC – PC ngày 02 tháng 8 năm 2021 thì anh T1, chị H1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm tương ứng theo trường hợp các bên thuận tình ly hôn.

[6]. Về quyền kháng cáo: Anh T1 và chị H1 có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào các Điều 55, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Căn cứ khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39 khoản 4, Điều 147, khoản 1, Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 và khoản 1, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Căn cứ vào điểm a, khoản 5, Điều 27, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Đinh Văn T và chị Hà Thị Thu H.
  2. Về con chung: Xử công nhận sự thỏa thuận giữa anh Đinh Văn T và chị Hà Thị Thu H, giao cháu Đinh Hà Bảo C, sinh ngày 02/4/2014 cho chị H chăm sóc, giáo dục đến khi cháu thành niên, anh T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở.
  3. Về Tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Đinh Văn T, chị Hà Thị Thu H mỗi người phải chịu 75.000VNĐ (bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh T đã nộp 300.000VNĐ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số: 0004533 ngày 13/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Nay được chuyển thành án phí, trả lại cho anh Đinh Văn T 225.000 VNĐ (hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng) đã nộp.
  5. Về quyền kháng cáo: Anh T1, chị H có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
  6. Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tân Sơn;
  • - THADS huyện Tân Sơn;
  • - UBND xã Tân Phú, huyện
  • Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND phường Nghĩa Đức
  • Thành phố Gia Nghĩa, tỉnh
  • Đắk Nông;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Tân Khải Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/HNGĐ – ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 06/2024/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án anh T ly hôn chị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger