Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂY SƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/DS-ST

Ngày: 25-4-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Minh Trí

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Trần Thị Lan

Bà Nguyễn Thị Tuyết Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hưởng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Bình Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 139/2022/TLST-DS ngày 19 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QÐST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: 1. Ông Đặng Ngọc T, sinh năm 1958

    2. Bà Trương Thị L, sinh năm 1962

    Đồng trú địa chỉ: Xóm T, thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định.

  • - Bị đơn: Ông Trần Ngọc H, sinh năm 1953

    Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1955 (vắng mặt).

    Đồng trú địa chỉ: Xóm B, thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định.

  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

    1. Chị Trần Thị N, sinh năm 1977

      Địa chỉ: Thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai.

    2. Chị Trần Thị T1, sinh năm 1979

      Địa chỉ: E đường E, khu dân cư E, phường P, Quận C, thành phố Cần Thơ.

    3. Anh Trần Ngọc S, sinh năm 1981

      Địa chỉ: Xóm B, thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định.

    4. Anh Trần Ngọc T2, sinh năm 1983

      Địa chỉ: C đường số B, khu dân cư E, phường P, Quận C, thành phố Cần Thơ.

      (Có đơn xin vắng mặt).

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Đặng Ngọc T, bà Trương Thị L trình bày:

Năm 1994 ông, bà có đấu giá đất của Nhà nước theo Quyết định về việc giao đất để làm nhà ở ngày 31/01/1994 của ủy ban nhân dân (UBND) huyện T, cụ thể giao cho ông Đặng Ngọc T tại thửa đất số 912, tờ bản đồ số 01, diện tích thửa đất là 200 m² (chiều dài 50m, chiều rộng là 4m), giới cận: Đông giáp: Nhà Trạm vật tư Tỉnh; Tây giáp lô số 2; Nam giáp Gò, B giáp Quốc lộ A. Giao cho bà Trương Thị L tại thửa đất số 913, tờ bản đồ số 01, diện tích thửa đất là 200 m² (chiều dài 50m, chiều rộng là 4m), giới cận: Đông giáp: Đặng Ngọc T; Tây giáp Đặng Ngọc C; Nam giáp Đầm lầy, B giáp Quốc lộ A. Do lúc đó các con còn nhỏ rất khó khăn nên ông, bà chưa xây dựng nhà để đất trống đến nay. Ngày 14/11/2005 UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00375 tại thửa đất số 912, tờ bản đồ số 01, diện tích thửa đất là 200 m² (chiều dài 50m, chiều rộng là 4m, đã trừ hành lang quốc lộ 19 là 27,5m), giới cận thửa đất: Đông giáp Thửa đất 911; Tây giáp thửa 913; Nam đất M thửa 806, Bắc giáp Quốc lộ A, loại đất ở tại nông thôn đứng tên ông Đặng Ngọc T và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00374 tại thửa đất số 913, tờ bản đồ số 01, diện tích thửa đất là 200 m² (chiều dài 50m, chiều rộng là 4m, đã trừ hành lang quốc lộ 19 là 27,5m), giới cận: Đông giáp thửa 912; Tây giáp thửa 914; Nam giáp CHN 806, Bắc giáp Quốc lộ A. loại đất ở tại nông thôn đứng tên Trương Thị L, 02 thửa đất sát nhau đều tọa lạc tại xóm B, thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định. Giáp 02 thửa đất số 912, 913 của vợ chồng ông bà nằm ở phía Nam là thửa đất ruộng màu số 806 của hộ ông Trần Ngọc H được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận có diện tích 1248m², nhưng vào ngày 21/01/2022 vợ chồng ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị H1 đã tự ý lấn chiếm đất xây dựng tường rào bằng gạch trên 02 thửa đất số 912, 913, mỗi thửa đất xây có chiều cao 2,2m (chiều dài 4m, chiều rộng 4m), với diện tích mỗi thửa đất là 16 m². Nay ông bà khởi kiện yêu cầu hộ ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị H1 phải tháo dỡ tường rào bằng gạch cao 2,2m, diện tích 16 m² của mỗi thửa đất để trả lại đất cho vợ chồng ông bà đúng theo diện tích đất đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại phiên tòa hôm nay ông bà yêu cầu hộ ông H, bà H1 trả diện tích lấn chiếm của thửa 913 nay là thửa 233 có diện tích 12,5m² và thửa 912 nay là thửa 234 có diện tích 15,1m² đã được Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn thành lập Hội đồng đo đạc, ông bà thống nhất diện tích như sơ đồ bản vẽ.

Tại các lời khai, trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa bị đơn ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị H1 trình bày:

Phần diện tích đất mà gia đình ông đã xây dựng tường rào bằng gạch cao 2m, diện tích 8m đối với mỗi thửa đất là phần diện tích đất mà gia đình ông H đã sử

3

dụng từ năm 1971 cho đến nay, đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 806, tờ bản đồ số 01 (nay là thửa 180, tờ bản đồ số 38), diện tích 1248m² loại đất ĐRM, cấp cho hộ ông Trần Ngọc H ngày 01/4/1998, trong hộ gồm có ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị H1, chị Trần Thị N, chị Trần Thị T1, anh Trần Ngọc S, anh Trần Ngọc T2. Hiện trạng ranh giới đất từ trước đến nay không thay đổi gì, gia đình ông bà xây dựng tường rào trên ranh giới phần đất của ông bà chứ không có lấn chiếm đất của gia đình ông T, bà L nên gia đình ông bà không đồng ý yêu cầu của ông T, bà L trả lại diện tích đất lấn chiếm.

Ông bà thống nhất về giá trị đất theo như biên bản định giá và sơ đồ bản vẽ ngày 26/4/2022 của Hội đồng đo đạc do Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn thành lập. Việc diện tích của thửa số 806, tờ bản đồ số 01 (nay là thửa 180, tờ bản đồ số 38) theo đo đạc mới là 1435,2m² là có chênh lệch so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp thì do sai số qua đo tay và đo máy, ông bà không có ý kiến gì. Ông bà không có lấn chiếm đất của ông T, bà L vì phần đất ông bà rào là thuộc diện tích đất của ông bà đang sử dụng đã được Nhà nước Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ranh giới sử dụng đất từ năm 1971 đến nay không có thay đổi gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị N, Trần Thị T1, anh Trần Ngọc S, Trần Ngọc T2 trình bày: Các anh chị đều thống nhất như lời trình bày và yêu cầu của bị đơn ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị H1.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng; đồng thời đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Ngọc T và bà Trương Thị L về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Căn cứ vào các Điều 163, 164, 246 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, 168, 170 của Luật Đất đai năm 2013. Buộc gia đình ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị H1 phải tháo dỡ các công trình đã xây dựng trái phép tường rào có diện tích lấn chiếm đất 12,5m² tại thửa đất số 913, tờ bản đồ số 01 nay là thửa số 233, tờ bản đồ số 38 tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đặng Ngọc T và diện tích đất 15,1m² tại thửa đất số 912, tờ bản đồ số 01 nay là thửa số 234, tờ bản đồ số 38 tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Trương Thị L (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

Về chi phí định giá tài sản và án phí dân sự sơ thẩm các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Nguyễn Thị H1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Ngọc T2 có đơn xin xử vắng mặt nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Hội đồng vẫn tiến hành xét xử.

4

[2] Về yêu cầu khởi kiện: Ông Đặng Ngọc T và bà Trương Thị L khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất yêu cầu ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị H1 phải trả lại cho gia đình ông bà diện tích đất đã lấn chiếm của 02 thửa là 27,6m², cụ thể: Thửa số 913, tờ bản đồ số 01 nay là thửa 233, tờ bản đồ số 38 có diện tích 12,5m² và thửa 912, tờ bản đồ số 01 nay là thửa 234, tờ bản đồ số 38 có diện tích 15,1m², địa chỉ 02 thửa đất tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định. Ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị H1 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, bà L, ông bà cho rằng không có lấn chiếm đất của ông T, bà L vì hiện trạng ranh giới đất ông bà sử dụng từ trước đến nay không thay đổi, ông bà xây dựng tường rào trên phần đất ranh giới của ông bà đã được UBND huyện T cấp cho hộ ông Trần Ngọc H.

[3] Về nguồn gốc đất các bên đang tranh chấp:

Năm 1994 ông Đặng Ngọc T được UBND huyện T giao đất theo Quyết định số: 32/QĐ-UB ngày 31/01/1994 về việc giao đất để làm nhà ở của thửa đất số 912, tờ bản đồ số 01 tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định, diện tích được giao 200 m²; Kích thước chiều dài 50m, chiều rộng là 4m. Loại đất ruộng: Gò; Vị trí giới cận: Đông giáp: Nhà Trạm vật tư T3; Tây giáp: lô số 2; Nam: giáp Gò; Bắc: giáp Quốc lộ A.

Năm 1994 bà Trương Thị L được UBND huyện T giao đất theo Quyết định số: 35/QĐ-UB ngày 31/01/1994 về việc giao đất để làm nhà ở của thửa đất số 913, tờ bản đồ số 01 tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định, diện tích được giao 200 m²; Kích thước chiều dài 50m, chiều rộng là 4m. Loại đất ruộng: Gò; Vị trí giới cận: Đông giáp: Đặng Ngọc T; Tây giáp Đặng Ngọc C; Nam giáp Đầm lầy, B giáp Quốc lộ A.

Ngày 14/11/2005 UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00375 tại thửa đất số 912, tờ bản đồ số 01, diện tích thửa đất là 200 m², loại đất ở tại nông thôn có (chiều dài 50m, chiều rộng là 4m, đã trừ hành lang quốc lộ 19 là 27,5m), giới cận thửa đất: Đông giáp Thửa đất 911; Tây giáp thửa 913; Nam đất M thửa 806, Bắc giáp Quốc lộ A, loại đất ở tại nông thôn cho ông Đặng Ngọc T và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00374 tại thửa đất số 913, tờ bản đồ số 01, diện tích thửa đất là 200 m², loại đất ở tại nông thôn có (chiều dài 50m, chiều rộng là 4m, đã trừ hành lang quốc lộ 19 là 27,5m), giới cận: Đông giáp thửa 912; Tây giáp thửa 914; Nam giáp CHN 806, Bắc giáp Quốc lộ A, loại đất ở tại nông thôn cho bà Trương Thị L, 02 thửa đất đều ở địa chỉ: thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định. Phía Nam của 02 thửa đất 912 và 913 tiếp giáp với thửa đất số 806, tờ bản đồ số 01 có diện tích 1248m² đất ruộng màu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 01/4/1998 được UBND huyện T cấp cho hộ ông Trần Ngọc H tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định, cấp theo Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993, tại thời điểm cấp cho hộ ông Trần Ngọc H gồm có ông H, vợ bà Nguyễn Thị H1, các con ông H, bà H1 là Trần Thị N, Trần Thị T1, anh Trần Ngọc S, Trần Ngọc T2.

[4] Về diện tích đất thực tế của thửa đất đang tranh chấp:

5

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đang tranh chấp vào ngày 26/4/2022 của Toà án nhân dân huyện Tây Sơn, đo đạc thực tế thửa đất số 913 mới là thửa 233, tờ bản đồ số 38 tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định đứng tên Trương Thị L, có diện tích 189.28m²; Thửa đất số 912 mới là thửa 234, tờ bản đồ số 38 tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định đứng tên Đặng Ngọc T, có diện tích 184.9m² là có sự chênh lệch về diện tích. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00375 và H00374 ngày 14/11/2005 do UBND huyện T cấp tại thửa đất số 912 (mới là 234) cho ông T và thửa 913 (mới là 233) cấp cho bà L có diện tích đất mỗi thửa 200 m² đất ở, như vậy diện tích đất của 02 thửa số 233 và 234 đều thiếu diện tích so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cụ thể tại thửa đất số 233 diện tích đất tranh chấp thiếu là 12,5m²; thửa đất số 234 diện tích đất tranh chấp thiếu là 15,1m². Còn thửa đất số 806 (cũ) mới là thửa 180, tờ bản đồ số 38 tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định đứng tên Trần Ngọc H, có diện tích 1435,2m² (theo sơ đồ bản vẽ đo theo hiện trạng) là có sự chênh lệch về diện tích. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01021/QSDĐ/H15 ngày 01/4/1998 của UBND huyện T cấp cho hộ ông Trần Ngọc H tại thửa 806 có diện tích 1248m² đất ruộng màu nhưng qua đo đạc thực tế thì hiện trạng đo đạc có diện tích đất 1435,2m², phần diện tích đất tăng có diện tích 187,2m².

Qua đối chiếu ranh giới, hình thể của thửa đất số 806 mới là thửa 180; Thửa 913 mới là thửa 233; Thửa đất số 912 mới là thửa 234 tờ bản đồ số 38 tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định, giữa: Sơ đồ thửa đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho 03 thửa đất trên so với Bản đồ địa chính khu đất 03 thửa đất do Công ty TNHH T4 đo đạc ngày 26/4/2022 không có sự thay đổi về ranh giới, hình thể nên diện tích đất tăng 187,2m² của thửa 180, tờ bản đồ số 38 đứng tên Trần Ngọc H được UBND xã B cung cấp: thửa 806 cũ mới là 180, tờ bản đồ số 38 của hộ ông Trần Ngọc H sử dụng trước năm 1975 đến nay, về ranh giới thửa đất không thay đổi, không tranh chấp với những chủ sử dụng đất liền kề. Do đó diện tích tăng được xác định là do sai số đo đạc.

Tại phiên tòa hôm nay hai bên đều thừa nhận hiện trạng, ranh giới đất từ trước đến nay vẫn giữ nguyên không thay đổi gì, việc chênh lệch diện tích đất của hộ ông H là do sai số giữa các lần đo đạc. Các hộ liền kề với thửa đất số 180, tờ bản đồ số 38 tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định không có ai tranh chấp. Hai bên thống nhất theo sơ đồ bản vẽ và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và biên bản định giá ngày 26/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, không yêu cầu đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

Căn cứ vào Điều 166 Luật đất đai năm 2013 quy định “……………… Được nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình ...”; Điều 170 Luật đất đai năm 2013 quy định “sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất.....” Điều 164 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, ...buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài

6

sản...”. Do đó, ông Đặng Ngọc T và bà Trương Thị L yêu cầu ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị H1 phải trả lại diện tích đất lấn chiếm theo sơ đồ bản vẽ tại thửa 233 và 234 tờ bản đồ số 38 tại thôn A, xã B, huyện T do UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận QSD đất số H00375 và H00374 ngày 14/11/2005 cho ông T và bà L để ông T, bà L được sử dụng là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.

[5] Về tài sản trên đất đang tranh chấp.

Trên 02 thửa đất số 233, 234 của ông T, bà L thì ông H, bà H1 có xây dựng tường rào xây gạch có chiều dài <150mm (mã hiệu TR1) xây dựng năm 2021, kích thước dài 8m, cao 2,2m có đơn giá 470.000 đồng/m2.

Ông Đặng Ngọc T và bà Trương Thị L yêu cầu hộ ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị H1 phải tháo dỡ tường rào xây gạch có chiều dài <150mm (mã hiệu TR1), kích thước dài 8m, cao 2,2m trả lại diện tích đất lấn chiếm vì ông H, bà H1 xây dựng tường rào trái phép trên đất của ông bà đã được Nhà nước giao đất hợp pháp cho ông bà nên không đồng ý thanh toán giá trị tiền cho ông T, bà L.

Xét thấy, ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị H1 chiếm hữu sử dụng đất trái phép không được Nhà nước công nhận nên yêu cầu của ông T, bà L được HĐXX chấp nhận. Vì vậy, buộc ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị H1 phải tháo dỡ tường rào xây gạch có chiều dài <150mm (mã hiệu TR1), kích thước dài 8m, cao 2,2m tại thửa đất số 233, 234 tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định để trả lại đất cho ông Đặng Ngọc T và bà Trương Thị L là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án thì ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị H1 thuộc diện người cao tuổi nên được miễn nộp án phí sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Đặng Ngọc T số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007603 ngày 19/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn.

[7] Về chi phí tố tụng khác: Tòa đã chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản số tiền 8.000.000 đồng. Ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị H1 phải chịu 8.000.000 đồng. Ông Đặng Ngọc T đã nộp tạm ứng số tiền 8.000.000 đồng nên ông H, bà H1 phải trả lại cho ông T số tiền 8.000.000 đồng.

[8] Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 157, 158, 165, 166 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 163, 164, 246 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 166, 168, 170 của Luật Đất đai năm 2013.

7

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miên, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Buộc ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị H1 phải trả cho ông Đặng Ngọc T diện tích đất 12,5m² tại thửa đất số 913, tờ bản đồ số 01 nay là thửa số 233, tờ bản đồ số 38 tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00375 ngày 14/11/2005 do UBND huyện T cấp cho Đặng Ngọc T được sử dụng (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

  2. Buộc ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị H1 phải trả cho bà Trương Thị L diện tích đất 15,1m² tại thửa đất số 913, tờ bản đồ số 01 nay là thửa số 234, tờ bản đồ số 38 tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00374 ngày 14/11/2005 do UBND huyện T cấp cho bà Trương Thị L được sử dụng (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

  3. Buộc ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị H1 phải tháo dỡ tường rào xây gạch có chiều dài <150mm (mã hiệu TR1), kích thước dài 8m, cao 2,2m nằm trên thửa đất số 233 và 234, tờ bản đồ số 38 tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định để trả lại đất cho ông Đặng Ngọc T và bà Trương Thị L được sử dụng (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

  4. Về án phí:

    4.1. Ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị H1 không phải nộp án phí sơ thẩm.

    4.2. Hoàn trả cho ông Đặng Ngọc T số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007603 ngày 19/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn.

  5. Về chi phí tố tụng: Ông Trần Ngọc H, bà Nguyễn Thị H1 phải chịu 8.000.000 đồng. Ông Đặng Ngọc T đã nộp tạm ứng số tiền 8.000.000 đồng nên ông H, bà H1 phải trả lại cho ông T số tiền 8.000.000 đồng.

  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

  7. Về quyền nghĩa vụ thi hành án:

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân

8

sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Tây Sơn;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Tây Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Minh Trí

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

8

9

10

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/DS-ST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 06/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Trác yêu cầu ông Hiến trả đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger