Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NINH BÌNH

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2023/KDTM-ST

Ngày 21/8/2023

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Quách Thị Thu Hương

Bà Hoàng Thị Kim Phượng

- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Quang Minh - Thư ký, Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình : Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 22/2023/TLST-KDTM ngày 27 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐST- KDTM ngày 26 tháng 7 năm 2023, quyết định hoãn phiên toà số 12/2023/QĐST-DS ngày 14/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, giữa các đương sự :

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V; Địa chỉ: Số H, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn A, Phó giám đốc trung tâm X ( Theo văn bản uỷ quyền số 25/2020/UQ-HĐQT ngày 07/7/2020 của Chủ tịch Hội đồng quản trị) ; Người đại diện theo ủy quyền lại: ông Ma Quang M, ông Nguyễn Bảo T, sinh năm 1996, Cán bộ xử lý nợ; Địa chỉ: Tầng G Tòa nhà V, G D, quận C, thành phố Hà Nội (văn bản uỷ quyền số 842/2023/UQ-LCC-KHDNMB1 ngày 14/8/2023).

Bị đơn: Công ty Cổ phần T3; Địa chỉ: Số nhà A, ngõ D, đường N, phố D, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Người đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Văn T1 – chức vụ: Giám đốc.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Đinh Văn T1, sinh năm 1983 ; địa chỉ : số nhà H, đường L, phố P, phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.

(Tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền lại của Ngân hàng V là ông Nguyễn Bảo T2 mặt; bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn- Ngân hàng Thương mại cổ phần V ( viết tắt là V1) do người đại diện theo ủy quyền lại là ông Nguyễn Bảo T, trình bày:

Theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 050221-5882069-01-SME ngày 08/2/2021 và các văn bản, khế ước nhận nợ kèm theo công ty T3 vay vốn của V1 với tổng số tiền là 1.146.650.000 đồng, cụ thể: hạn mức cho vay là 1.146.650.000 đồng, thời hạn cho vay là 60 tháng. Mục đích sử dụng vốn vay: Thanh toán một phần tiền mua 01 xe ô tô Fort Everest 4x4 2.0 Titanium AT 7 chỗ màu đen mới 100% theo hợp đồng mua bán xe ô tô số 60-0121-Everest tiat 4x4-TG ký ngày 20/01/2021 giữa khách hàng và công ty cổ phần Đ.

Lãi xuất cho vay trong hạn và cơ chế điều chỉnh lãi xuất được bên Ngân hàng và khách hàng thoả thuận theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng và được quy định cụ thể trong các khế ước nhận nợ và các văn bản liên quan ký kết giữa khách hàng và bên ngân hàng. Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn ( lãi suất quá hạn) bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Khế ước nhận nợ số 050221-5882069-01-SE ngày 09/2/2021 số tiền nhận nợ là 1.146.650.000 đồng thời hạn cho vay là 60 tháng từ ngày 09/02/2021 đến ngày 09/2/2026.

Để bảo đảm cho khoản vay, công ty Cổ phần T3 đã thế chấp 01 xe ô tô nhãn hiệu Fort Everrest màu đen biển kiểm soát 35A- 225.30, số khung MNCAXXMAWALT70382 số máy YNWQALT70382 thuộc sở hữu của công ty cổ phần T3 được xác lập thế chấp tại V1 bằng hợp đồng thế chấp xe ô tô số 050221-5882069-01-SME/TC ngày 08/2/2021. Ngoài ra, theo hợp đồng bảo lãnh số 080221-5882069-HDBL-01 ngày 08/2/2021 ký giữa V1 và ông Đinh Văn T1, bên bảo lãnh là ông T1 dồng ý dùng toàn bộ tài sản của mình bảo lãnh vô điều kiện và không huỷ ngang cho công ty T3 trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ, bao gồm : trả nợ gốc, lãi, các khoản phí, tiền phạt, các chi phí và tất cả các nghĩa vụ khác của công ty T3 với V1 phát sinh từ hợp đồng cho vay hạn mức số 050221-5882069-01-SME/TC ngày 08/2/2021 và các hợp đồng văn bản tín dụng khác ký giữa công ty T3 và V1 bao gồm cả các phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung, khế ước nhận nợ và văn bản liên quan.

Quá trình thực hiện hợp đồng, công ty T3 vi phạm, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với V1 kể từ ngày 05/9/2022. Do đó, V1 đã chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn với mức lãi suất quá hạn theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ. Tính đến ngày 21/8/2023, số tiền công ty T3 còn nợ ngân hàng V1 là 829.125.069 đồng trong đó : nợ gốc 778.666.551 đồng, nợ lãi trong hạn là 9.715.216 đồng, nợ lãi quá hạn là 151.398.296 đồng, phạt chậm trả 8.640.642 đồng.

Người đại diện pháp luật của bị đơn là công ty cổ phần T3 đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Đinh Văn T1 có bản tự khai trình bày : Trong khoảng thời gian cuối năm 2020, công ty cổ phần T3 có mua một xe ô tô trả góp hiệu Ford Everest biển số 35A-22530 . Tính đến ngày 02/2/2023, công ty cổ phần T3 còn nợ của V1 số tiền là 829.125.069 đồng gồm cả tiền gốc và tiền lãi. Trước đó, công ty đã trả được một phần tiền gốc và tiền lãi cho Ngân hàng từ cuối năm 2020. Sau đó, do dịch C, công việc của công ty gặp khó khăn nghiêm trọng nên mất khả năng chi trả cho Ngân hàng như đã cam kết. Trong trường hợp công ty không trả được nợ đề nghị ngân hàng thanh lý xe ô tô để thu hồi nợ

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự giai đoạn thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Áp dụng các Điều 317, 318, 320, 335, 336, 400, 401, 463, 465, 466 BLDS năm 2015; Điều 90, 91, 95, 98 – Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35, Điều 147 BLTTDS 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần V về tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn là công ty cổ phần T3 có trụ sở tại phường Đ thành phố N tỉnh Ninh Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình tỉnh Ninh Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn là công ty cổ phần T3 và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt nên hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

2.1 Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

2.1.1 Về yêu cầu thanh toán khoản nợ gốc và lãi:

Xét Hợp đồng cho vay số 050221-5882069-01-SME ngày 08/2/2021 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần V ( V1) và Công ty cổ phần T3, được các bên tự nguyện ký kết, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 nên có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành đối với các bên. Theo hợp đồng cho vay, Công ty cổ phần T4 của Ngân hàng V1 số tiền 1.146.650.000 đồng (một tỷ một trăm bốn sáu triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng), thời hạn nhận nợ theo khế ước nhận nợ là 60 tháng tính từ ngày 09/2/2021 đến ngày 09/2/2026; lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 8,8%/năm và đã được ngân hàng giải ngân số tiền vào ngày 09/2/2021 số tiền là 1.146.650.000 đồng. Quá trình vay, công ty cổ phần T3 đã thanh toán cho ngân hàng tiền gốc đến ngày 21/8/2023 được 367.983.449 đồng tiền gốc và tiền lãi là 150.990.402 đồng. Do công ty cổ phần T3 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng thu hồi nợ trước hạn đối với khoản nợ gốc còn lại chưa thanh toán là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng. Ngày 24/7/2023, nguyên đơn có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện đề nghị Toà án buộc công ty cổ phần T3 phải trả số tiền còn nợ Ngân hàng V1 tính đến ngày 24/7/2023 là 934.945.751 đồng trong đó: nợ gốc là 778.666.551 đồng, lãi trong hạn là 9.715.216 đồng, lãi quá hạn là 139.212.697 đồng, phạt chậm trả là 7.351.287 đồng.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, đã có bản tự khai thừa nhận khoản tiền gốc, tiền lãi còn nợ ngân hàng và đưa ra phương án nếu không trả được nợ cho ngân hàng V2 Bank đề nghị Ngân hàng phát mại tài sản thế chấp. Nhưng lại vắng mặt trong các buổi làm việc khác của Toà án và tại phiên xét xử, cho thấy bị đơn đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh đã thanh toán khoản nợ gốc còn lại cho nguyên đơn. Vì vậy, nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền nợ gốc 778.666.551 đồng (so với yêu cầu khởi kiện là số tiền 778.668.045 đồng nguyên đơn khai số tiền yêu cầu tại phiên toà thấp hơn yêu cầu khởi kiện là do Ngân hàng đối trừ tiền gốc của tài khoản tiền vay khách hàng mở tại Ngân hàng) nên yêu cầu trả nợ gốc của Ngân hàng là có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng và các Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.

Về yêu cầu thanh toán các khoản lãi: Do Công ty cổ phần T3 phạm nghĩa vụ thanh toán nên phải trả khoản lãi chậm thanh toán tính đến hết ngày 21/8/2023 gồm: tiền gốc là 778.666.551 đồng, trong đó lãi trong hạn là 9.715.216 đồng, lãi quá hạn là 151.398.296 đồng, phạt chậm trả là 8.640.642 đồng là phù hợp với thỏa thuận tại Khoản 2 Điều 2 Hợp đồng cho vay số 050221-5882069-01-SME ngày 08/2/2021 và Khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên được chấp nhận.

Như vậy, tổng cộng tiền gốc và lãi công ty cổ phần T3 phải thanh toán cho ngân hàng đến hết ngày 21/8/2023 là: 948.420.705 đồng (chín trăm bốn tám triệu bốn trăm hai mươi nghìn bảy trăm linh năm đồng).

Công ty cổ phần T5 phải trả thêm khoản lãi phát sinh từ ngày 22/8/2023 đến ngày thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 050221-5882069-01-SME ngày 08/2/2021 trên số tiền và thời gian chậm trả.

2.1.2 Về yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp và trách nhiệm của người bảo lãnh:

Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 050221-5882069-01-SME/TC ngày 08/2/2021 giữa Công ty cổ phần T3 Petrolimex và Ngân hàng V1 được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, không bị lừa dối, các điều khoản của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội. Tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô hiệu Ford, BKS 35A-22530 số máy YNWQALT70382, số khung MNCAXXMAWALT70382 đã được Công an tỉnh N cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô ngày 05/2/2021 cho công ty cổ phần T3, là tài sản hợp pháp của công ty, được đăng ký bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Đà Nẵng ngày 08/2/2021 nên có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành với bên thứ ba. Do đó trường hợp Công ty cổ phần T6 thanh toán đủ các khoản tiền nợ của Hợp đồng cho vay số 050221-5882069-01-SME ngày 08/2/2021 thì Ngân hàng V1 có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Ford, BKS 35A- 22530 để thu hồi nợ.

Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán toàn bộ nợ vay, công ty cổ phần T7 trả nợ đến khi thanh toán hết nợ vay. Trường hợp, công ty cổ phần T3 toán đủ số tiền nêu trên thì Ngân hàng V1 trả lại giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho công ty cổ phần T3

Nếu công ty cổ phần T3 không trả được nợ thì ông Đinh Văn T1 có nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty T3 theo hợp đồng bảo lãnh số 080221-HDBL-01 ngày 08/02/2021 đã giao kết với Ngân hàng.

[3] Về chi phí xem xét thẩm định tại công ty cổ phần T8 nộp 10.000.000₫ (mười triệu đồng), do Ngân hàng V1 đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ nên công ty cổ phần T8 hoàn lại số tiền này cho ngân hàng.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên công ty cổ phần Tràng An P nộp án phí đối với số tiền 948.420.705 đồng là: 36.000.000 đồng + 3% x (948.420.705–800.000.000 đồng) = 40.452.621 đồng (Bốn mươi triệu bốn trăm năm hai nghìn sáu trăm hai mốt đồng). Trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp cho Ngân hàng V1.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 322, Điều 323, điểm c khoản 2 Điều 324 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng 2010; Điều 147, Điều 157, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần V về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng với Công ty cổ phần T3 .

    Buộc Công ty cổ phần T3 toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V Thịnh Vượng số tiền nợ của Hợp đồng cho vay số 050221-5882069-01-SME ngày 08/2/2021 là 948.420.705 đồng (chín trăm bốn tám triệu bốn trăm hai mươi nghìn bảy trăm linh năm đồng). Trong đó: Nợ gốc là 778.666.551 đồng (bảy trăm bảy tám triệu sáu trăm sáu sáu nghìn năm trăm năm mốt đồng), lãi trong hạn là 9.715.216 đồng (chín triệu bảy trăm mười lăm nghìn hai trăm mười sáu đồng), lãi quá hạn 151.398.296 đồng (một trăm năm mốt triệu ba trăm chín tám nghìn hai trăm chín sáu đồng), lãi chậm trả là 8.640.642 đồng ( tám triệu sáu trăm bốn mươi nghìn sáu trăm bốn hai đồng).

    Nếu công ty cổ phần T3 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền 948.420.705 đồng thì Ngân hàng Thương mại cổ phần V có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là 01 xe ô tô hiệu Ford Everest biển kiểm soát 35A-22530, số máy YNWQALT70382, số khung MNCAXXMAWALT70382 đã được Công an tỉnh N cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô ngày 05/2/2021 cho công ty cổ phần T3.

    Trường hợp, công ty cổ phần T3 toán đủ số tiền nêu trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần V lại giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho Công ty cổ phần T3.

    Trường hợp, công ty cổ phần T3 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản tiền nêu trên thì buộc ông Đinh Văn T1 phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thoả thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thoả thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  2. Về chi phí xác minh, xem xét thẩm định tại chỗ: Công ty cổ phần T3 phải hoàn lại cho ngân hàng Thương mại cổ phần V Thịnh Vượng số tiền 10.000.000₫ (mười triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty cổ phần T3 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 40.452.621 đồng (Bốn mươi triệu bốn trăm năm hai nghìn sáu trăm hai mốt đồng) Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V số tiền 18.400.000 đồng (mười tám triệu bốn trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/0001078 ngày 26/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình tỉnh Ninh Bình.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND TPNB;
  • - Chi cục THA TPNB;
  • - Lưu HS

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2023/KDTM-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 06/2023/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 050221-5882069-01-SME ngày 08/2/2021 và các văn bản, khế ước nhận nợ kèm theo công ty Tr A vay vốn của VP Bank với tổng số tiền là 1.146.650.000đồng, cụ thể : hạn mức cho vay là 1.146.650.000 đồng, thời hạn cho vay là 60 tháng. Mục đích sử dụng vốn vay: Thanh toán một phần tiền mua 01 xe ô tô Fort Everest 4x4 2.0 Titanium AT 7 chỗ màu đen mới 100% theo hợp đồng mua bán xe ô tô số 60-0121-Everest tiat 4x4-TG ký ngày 20/01/2021 giữa khách hàng và công ty cổ phần đầu tư thương mại A Đ. Lãi xuất cho vay trong hạn và cơ chế điều chỉnh lãi xuất được bên Ngân hàng và khách hàng thoả thuận theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng và được quy định cụ thể trong các khế ước nhận nợ và các văn bản liên quan ký kết giữa khách hàng và bên ngân hàng. Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn ( lãi suất quá hạn) bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Khế ước nhận nợ số 050221-5882069-01-SE ngày 09/2/2021 số tiền nhận nợ là 1.146.650.000đồng thời hạn cho vay là 60 tháng từ ngày 09/02/2021 đến ngày 09/2/2026. Để bảo đảm cho khoản vay, công ty Cổ phần Tr A Petrolimex đã thế chấp 01 xe ô tô nhãn hiệu Fort Everrest màu đen biển kiểm soát 35A- 225.30, số khung MNCAXXMAWALT70382 số máy YNWQALT70382 thuộc sở hữu của công ty cổ phần Tràng An Petrolimex được xác lập thế chấp tại VP Bank bằng hợp đồng thế chấp xe ô tô số 050221-5882069-01-SME/TC ngày 08/2/2021. Ngoài ra, theo hợp đồng bảo lãnh số 080221-5882069-HDBL-01 ngày 08/2/2021 ký giữa VP bank và ông Đinh Văn T, bên bảo lãnh là ông T dồng ý dùng toàn bộ tài sản của mình bảo lãnh vô điều kiện và không huỷ ngang cho công ty Tràng An trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ, bao gồm : trả nợ gốc, lãi, các khoản phí, tiền phạt, các chi phí và tất cả các nghĩa vụ khác của công ty Tràng An với VP Bank phát sinh từ hợp đồng cho vay hạn mức số 050221-5882069-01-SME/TC ngày 08/2/2021 và các hợp đồng văn bản tín dụng khác ký giữa công ty Tr A và VP Bank bao gồm cả các phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung, khế ước nhận nợ và văn bản liên quan. Quá trình thực hiện hợp đồng, công ty Tràng An Petrolimex vi phạm, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với VP Bank kể từ ngày 05/9/2022. Do đó, VP Bank đã chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn với mức lãi suất quá hạn theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ. Tính đến ngày 21/8/2023, số tiền công ty Tr A còn nợ ngân hàng VP Bank là 829.125.069 đồng trong đó : nợ gốc 778.666.551 đồng, nợ lãi trong hạn là 9.715.216 đồng, nợ lãi quá hạn là 151.398.296 đồng, phạt chậm trả 8.640.642 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger