Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 06/2026/HS-PT

Ngày: 08-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Ninh

Các thẩm phán:

Ông Lê Văn Thăng

Ông Vũ Hồng Luyến

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 544/HSPT ngày 13 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo Phạm Thị L.

Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 130/2025/HS-ST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3- Đồng Nai.

- Bị cáo kháng cáo: Phạm Thị L, sinh năm 1976, tại Ninh Bình. Căn cước công dân số: 037176001759. Nơi đăng ký HKTT: Xóm A, xã N, huyện K, tỉnh Ninh Bình (nay là xã Q, tỉnh Ninh Bình). Nơi cư trú: Hương lộ B, tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã B, tỉnh Đồng Nai). Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn T (đã chết) và bà Lưu Thị L1; Bị cáo có 01 con sinh năm 2003. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 17/8/2005, bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 19 năm tù về tội “Mua bán phụ nữ” và “Mua bán trẻ em”. Bị cáo tại ngoại. (bị cáo vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thửa đất số 190, tờ bản đồ số 12 xã T, huyện T (nay là xã B) có diện tích 11.137,9m² được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 458037 vào ngày 27/7/2015 cho ông Trần Kim T1, sinh năm 1954 và bà Đặng Thị H, sinh năm 1960, cùng cư trú tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã B, tỉnh Đồng Nai). Ngày 01/3/2019, thửa đất số 190, tờ bản đồ số 12 xã T được tách thành thửa đất số 250, tờ bản đồ số 12 (có diện tích 288,9m²) và thửa đất số 251, tờ bản đồ số 12 (có diện tích 10.849,0m²). Theo Quyết định công bố quy hoạch số 5369/QĐ-UBND ngày 31/12/2021 của UBND tỉnh Đ về việc phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 thì thửa đất số 251, tờ bản đồ số 12 xã T có 9.798,1m² quy hoạch đất ở nông thôn và 1.050,9m² quy hoạch đất giao thông; tuy nhiên hiện nay, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 458037 cấp ngày 27/7/2015 thì toàn bộ 10.849,0m² của thửa đất số 251, tờ bản đồ số 12 có mục đích sử dụng là đất trồng cây lâu năm.

Ngày 01/10/2020, Phạm Thị L ký hợp đồng với ông Trần Kim T1 và bà Đặng Thị H thuê một phần thửa đất số 190, tờ bản đồ số 12 xã T, huyện T với diện tích 7.479m² (chính là một phần thửa đất số 251, tờ bản đồ số 12 xã T) để xây dựng kho bãi, nhà xưởng kinh doanh nông sản và sử dụng phần diện tích đất thuê này từ tháng 10/2020 đến nay. Để phục vụ cho hoạt động thu mua nông sản của bà con nông dân tại địa phương (theo Biên bản thỏa thuận về việc đứng tên đại diện vùng trồng lập ngày 10/7/2022), ngày 02/12/2023, L đã xây dựng 01 nhà xưởng có diện tích 40m x 30m = 1.200m² (kết cấu cột sắt chữ I, vỉ kèo sắt, đòn tay sắt, mái tôn, chiều cao công trình khoảng 10m, vách tôn 2 bên với tổng chiều dài 60m, cao khoảng 6m) và mái che phía trước kích thước 40m x 2m = 80m² (kết cấu mái tôn, đòn tay sắt) trên thửa đất số 251, tờ bản đồ số 12 xã T, huyện T khi chưa chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Ngày 04/12/2023, UBND xã T, huyện T phát hiện hành vi của L nên đã lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính về hành vi “sử dụng đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, không phải là đất rừng phòng hộ, không phải là đất rừng đặc dụng, không phải là đất rừng sản xuất vào mục đích khác không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định tại các điểm b và d khoản 1 Điều 57 của Luật đất đai" theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Ngày 26/12/2023, Chủ tịch UBND huyện T ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai số 5566/QĐ-XPHC đối với Phạm Thị L với hình thức xử phạt chính: phạt tiền 22.500.000 đồng (hai mươi hai triệu năm trăm ngàn đồng); biện pháp khắc phục hậu quả: buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm và buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp do vi phạm mà có là 729.599 đồng (bảy trăm hai mươi chín ngàn năm trăm chín mươi chín đồng). Ngày 27/12/2023, UBND xã T thực hiện bàn giao Quyết định số 5566/QĐ-XPHC

ngày 26/12/2023 của Chủ tịch UBND huyện T cho L, L đã chấp hành hình thức phạt tiền, truy thu số lợi bất hợp pháp với tổng số tiền là 23.229.599 đồng (hai mươi ba triệu hai trăm hai mươi chín ngàn năm trăm chín mươi chín đồng) theo biên lai số 93820 ngày 28/12/2023 tại Ngân hàng B – Chi nhánh Đ nhưng chưa chấp hành biện pháp khắc phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm.

Ngày 30/12/2023 và ngày 31/12/2023, khi chưa chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 5566/QĐ-XPHC ngày 26/12/2023 của Chủ tịch UBND huyện T, L tiếp tục có hành vi xây dựng thêm nhà xưởng có diện tích là 40m x 17,7m = 708m² (kết cấu cột sắt, vỉ kèo sắt, đòn tay sắt, mái tôn, vách tôn, chiều cao công trình khoảng 5m) nối liền với phần phía sau của nhà xưởng đã bị xử phạt vi phạm hành chính. Sau khi dựng xong nhà xưởng, L tiến hành đổ bê tông nền của 02 nhà xưởng với tổng diện tích 1.908m² (gồm nền của nhà xưởng đã bị xử phạt hành chính và nền của nhà xưởng mới xây dựng thêm). Tiếp đó, ngày 06/5/2024 L tiến hành xây dựng 05 phòng làm việc (kết cấu tường gạch và khung nhôm ốp kính, trần làm bằng thạch cao) bên trong, xây dựng 01 nhà vệ sinh (kết cấu móng gạch, tường gạch, mái lợp tôn) ở bên cạnh nhà xưởng đã bị xử phạt hành chính và xây dựng 01 dãy phòng chứa phân bón (kết cấu từ các tấm SCG - blu xi măng) ở phía đối diện dãy phòng làm việc, bên trong nhà xưởng đã bị xử phạt hành chính. Trong quá trình xây dựng, vật tư được L chuẩn bị từ trước (L mua từ khoảng năm 2019 tại tỉnh Tây Ninh để xây dựng nhà xưởng tại đây, tuy nhiên sau đó không thực hiện việc xây dựng nhà xưởng mà được vận chuyển về cất giữ tại thửa đất số 251, tờ bản đồ số 12 xã T), một số ít vật tư được mua của các cửa hàng vật liệu xây dựng trên địa bàn, trong đó có cửa hàng vật liệu xây dựng của ông V ở gần nhà xưởng của L; nhân công xây dựng được L thuê theo từng công trình, cụ thể: L thuê ông Phạm Thanh Q xây dựng 02 nhà xưởng và đổ nền bê tông; thuê nhân công không rõ nhân thân lai lịch xây dựng 05 phòng làm việc và 01 nhà vệ sinh; thuê ông Lê Trí N xây dựng 01 dãy phòng chứa phân bón. Những người được L thuê xây dựng nêu trên chỉ thực hiện theo yêu cầu của L, không biết việc làm của L là vi phạm pháp luật.

Ngày 23/4/2024, UBND xã T phát hiện việc L tiếp tục có hành vi vi phạm sau khi đã bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai nên đã lập hồ sơ báo cáo UBND huyện T chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 23/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phạm Thị L về tội “Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai” theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Hình sự để điều tra. Quá trình điều tra, Phạm Thị L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. (Bút lục số: 41-130, 175-247, 248-257, 269-357).

Tại bản án sơ thẩm số 130/2025/HS-ST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3- Đồng Nai đã tuyên xử:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 228; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
  2. Tuyên bố bị cáo Phạm Thị L phạm tội “Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai”.

    Xử phạt bị cáo Phạm Thị L 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị áp giải chấp hành án phạt tù.

  3. Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên xử lý công trình xây dựng trái phép trên đất, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 06 tháng 10 năm 2025 bị cáo Phạm Thị L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thị L, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 130/2025/HS-ST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3- Đồng Nai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Ngày 06/10/2025, bị cáo Phạm Thị L kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 130/2025/HS-ST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3- Đồng Nai với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt, đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Phạm Thị L vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan, việc bị cáo vắng mặt không trở ngại cho việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Qua quá trình nghiên cứu hồ sơ có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2023 đến tháng 5/2024, Phạm Thị L sau khi bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm trong sử dụng đất đai theo quyết định số 5566/QĐ-XPHC, ngày 26/12/2023, chưa chấp hành xong hình phạt nhưng bị cáo tiếp tục có hành vi xây dựng thêm những công trình sau:

  • + Nhà xưởng có diện tích là 40m x 17,7m = 708m² (kết cấu cột sắt, vỉ kèo sắt, đòn tay sắt, mái tôn, vách tôn, chiều cao công trình khoảng 5m) nối liền với phần phía sau của nhà xưởng đã bị xử phạt vi phạm hành chính;
  • + Đổ bê tông nền của 02 nhà xưởng với tổng diện tích 1.908m² (gồm nền của nhà xưởng đã bị xử phạt hành chính và nền của nhà xưởng mới xây dựng thêm);
  • + 05 phòng làm việc (kết cấu tường gạch và khung nhôm ốp kính, trần làm bằng thạch cao) bên trong;
  • + 01 nhà vệ sinh (kết cấu móng gạch, tường gạch, mái lợp tôn) ở bên cạnh nhà xưởng đã bị xử phạt hành chính;
  • + 01 dãy phòng chứa phân bón (kết cấu từ các tấm SCG - blu xi măng) ở phía đối diện dãy phòng làm việc, bên trong nhà xưởng đã bị xử phạt hành chính trên đất nông nghiệp tại thửa đất số 251, tờ bản đồ số 12 xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã B, tỉnh Đồng Nai).

Hội đồng xét xử sơ thẩm xét xử bị cáo Phạm Thị L về tội “Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai” quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt Hội đồng xét xử nhận thấy:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử sơ thẩm sau khi xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi của bị cáo, đánh giá toàn bộ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đã xử phạt bị cáo 10 tháng tù về tội “Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai” là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới ngoài các tình tiết Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phạm Thị L phải chịu án phí theo quy định.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

    Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thị L đối với bản án hình sự sơ thẩm số 130/2025/HS-ST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3- Đồng Nai.

    Áp dụng khoản 1 Điều 228; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Phạm Thị L phạm tội “Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai”.

    Xử phạt bị cáo Phạm Thị L 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị áp giải chấp hành án phạt tù.

  2. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

    Bị cáo Phạm Thị L phải nộp phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm;

  3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND khu vực 3- Đồng Nai (2);
  • - VKSND khu vực 3- Đồng Nai;
  • - Phòng THADS khu vực 3- Đồng Nai;
  • - Cơ quan THAHS- Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - UBND xã Quang Thiện, tỉnh Ninh Bình;
  • - Công an xã Quang Thiện, tỉnh Ninh Bình;
  • - UBND xã Bàu Hàm, tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an xã Bàu Hàm, tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Phòng Hồ sơ- Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Quang Ninh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2026/HS-PT ngày 08/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm các quy định về sử dụng đất đai

  • Số bản án: 06/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger