Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CP

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HS-ST

Ngày: 02-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Kiều Thị Hồng Thủy

Ông Nguyễn Đức Thắng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CP, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Mai – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CP, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ tên: Nguyễn Văn Ch, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Sinh ngày 12/9/1999; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không;

CCCD số: [...] do Cục CS QLHC về TTXH cấp ngày 22/11/2021;

Nơi cư trú: thôn Muồng Phú Vàng, xã Vân Hòa, huyện Ba Vì, TP Hà Nội;

Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Họ tên bố: Nguyễn Văn Sử (đã chết); Họ tên mẹ: Vũ Thị Thìn, sinh năm: 1965;

Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con út trong gia đình;

Họ tên vợ: Bùi Thanh Thảo, sinh năm 2005 và 02 con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/11/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam tỉnh Hòa Bình, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác:

1. Bị hại:

- Anh Lê Văn Kh, sinh năm 1979 (có mặt);

Nơi cư trú: Khu 7, thị trấn CP, huyện CP, tỉnh Hòa Bình;

- Anh Trần Lê Trung Anh, sinh năm 2003 (có mặt);

Nơi cư trú: SN 03, tổ dân phố Bắc Sơn, phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc;

2. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văm M, sinh năm 1979 (có mặt);

Nơi cư trú: Thôn 02, xã Vân Phúc, huyện Phúc Thọ, TP Hà Nội;

1

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 01/9/2024, Nguyễn Văn Ch nhờ chú họ là anh Nguyễn Văm M ký hợp đồng mua trả góp xe mô tô, anh Mạnh đồng ý, cả hai đến cửa hàng mua bán xe mô tô Hữu Hùng tại thị trấn Phúc Thọ, huyện Phúc Thọ, TP Hà Nội làm thủ tục mua trả góp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn: xám đen, BKS: 29AP-002.08, số khung: JK03E3494607, số máy: RJHJK0354RY170446. Anh Mạnh là người trực tiếp ký hợp đồng trả góp với Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC (viết tắt VPB SMBC FC) và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 29AP-002.08. Sau khi hoàn tất thủ tục mua xe trả góp, Chi là người trực tiếp sử dụng xe và hứa chịu trách nhiệm trả góp chiếc xe. VPB SMBC FC nơi giữ bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 29AP-002.08, Chi được cầm bản sao Giấy chứng nhận đăng ký xe.

Sau khi nhận bản photo Giấy chứng nhận đăng ký xe, Chi đã chụp ảnh Giấy đăng ký xe mô tô, lên mạng xã hội Facebook để tìm hiểu và đặt làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe với giá 300.000Đ (Ba trăm nghìn đồng). Chi không nhớ đã đặt tại trang Facebook nào (Chi đã xóa hết các thông tin trên điện thoại di động). Sau khi nhận được Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô giả, ngày 31/10/2024, Chi mang xe mô tô BKS: 29AP-002.08 cùng Giấy đăng ký xe mô tô giả đến cửa hàng xe máy Khiêm Phương của anh Lê Văn Kh tại khu 7, thị trấn CP, huyện CP, tỉnh Hòa Bình để bán với giá 29.000.000Đ (Hai mươi chín triệu đồng). Chi dùng số tiền trên để chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 20/11/2024, thông qua mạng xã hội Facebook, Chi biết anh Trần Lê Trung Anh có nhu cầu muốn bán 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu xanh đen. Chi đã chủ động nhắn tin qua ứng dụng Mesenger và Zalo cho Trung Anh, đề nghị Trung Anh đổi chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu xanh đen lấy chiếc xe nhãn hiệu Honda Vision BKS: 29AP-002.08, ngoài ra Trung Anh phải trả thêm 12.000.000Đ (Mười hai triệu đồng). Trung Anh đồng ý với đề nghị của Chi, hai người hẹn gặp nhau tại Bến xe Mỹ Đình thuộc địa phận phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội để xem xe. Đến 10h30 cùng ngày, Chi cùng Triệu Văn Hợi đến bến xe Mỹ Đình để gặp Trung Anh. Tại đây, Chi nói với Trung Anh chiếc xe của Chi đang để tại nhà của Chi tại xã Vân Hòa, huyện Ba Vì, cần Trung Anh đi cùng Chi đến đó để xem xe, Trung Anh đồng ý. Sau đó Chi cùng Hợi và Trung Anh bắt xe bus đến Ngã tư Trường Sỹ Quan Lục Quân thuộc địa bàn xã Cổ Đông, thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội thì xuống xe và bắt xe taxi đi CP, Hòa Bình. Chi nói với Trung Anh chiếc xe của Chi đang được cầm cố tại thị trấn CP, huyện CP, cần đến đây chuộc xe mới có thể đưa xe cho Trung Anh được.

Khi đến cửa hàng xe máy Khiêm Phương (nơi Chi đã bán chiếc xe mô tô BKS: 29AP-002.08 trước đó), Chi dặn Trung Anh và Hợi ở ngoài xem xe, còn Chi đi vào để nói chuyện với anh Khiêm là chủ cửa hàng xe máy. Sau khi xem

2

xe xong, Chi, Hợi và Trung Anh ra quán nước gần khu vực cổng Trường cấp 3 thuộc thị trấn CP, huyện CP, Chi nhắn tin cho Bùi Văn Quân là chú họ của vợ Chi để hỏi xin số tài khoản của Quân để Chi gửi nhờ tiền, Quân đồng ý. Sau khi có được mã QR code số tài khoản Ngân hàng MB Bank số tài khoản 0387121823 mang tên BUI VAN QUAN, Chi yêu cầu Trung Anh chuyển 11.000.000Đ (Mười một triệu đồng) vào số tài khoản của Quân, Chi nói với Trung Anh đây là số tài khoản của chủ cửa hàng xe máy. Sau khi Trung Anh chuyển tiền xong, Chi nói với Trung Anh chưa đủ tiền để chuộc xe nên cần về Ba Vì, Hà Nội để vay tiền. Chi cầm cố chiếc điện thoại của mình lấy tiền rồi cùng Hợi và Trung Anh bắt xe về Ba Vì, tại đây Chi gọi điện thoại cho Bùi Văn Minh ra quán bia cùng uống bia. Trung Anh yêu cầu Chi trả lại số tiền 11.000.000Đ (Mười một triệu đồng) đã chuyển trước đó nhưng Chi không trả. Trung Anh và Chi giằng co với nhau, Chi bỏ chạy và cùng Minh bắt taxi đi CP, Hòa Bình.

Đến khoảng 20h ngày 20/11/2024, Chi mượn điện thoại của tài xế lái xe taxi để gọi điện thoại cho Quân, Quân có hỏi nguồn gốc số tiền 11.000.000Đ, Chi trả lời đây là tiền bốc họ, Chi nhờ Quân chuyển số tiền 800.000Đ (Tám trăm nghìn đồng) để trả tiền xe đến số tài khoản 0979737756 MB Bank, tên chủ tài khoản NGUYEN TUAN ANH. Khoảng 40 phút sau, Chi nhờ Quân chuyển số tiền 9.000.000Đ (Chín triệu đồng) đến số tài khoản 4520352389 BIDV, tên chủ tài khoản VU BA LONG để Chi rút tiền nhưng do không rút được nên anh Long chuyển lại toàn bộ số tiền lại cho anh Quân. Khoảng 21h cùng ngày, Chi tiếp tục nhờ Quân chuyển số tiền 830.000Đ (Tám trăm ba mươi nghìn đồng) để trả tiền xe đến số tài khoản 0989254207 MB Bank, tên chủ tài khoản NGUYEN VAN DIEP. Chỉ nhờ Quân chuyển nốt số tiền còn lại vào tài khoản của Chi, do trước đó Chi đã nợ Quân số tiền 170.000Đ (Một trăm bảy mươi nghìn đồng) nên Quân đã trừ nợ và chuyển lại cho Chi số tiền 9.200.000Đ (Chín triệu hai trăm nghìn đồng). Số tiền sau khi Quân chuyển lại, Chi đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 21/11/2024, anh Trần Lê Trung Anh đến Công an huyện CPtrình báo nội dung sự việc (BL: 01). Đến ngày 22/11/2024, Nguyễn Văn Ch đến Cơ quan CSĐT Công an huyện CPđể đầu thú về hành vi phạm tội của mình (BL: 03).

- Công văn số 23/CV-XLTD.24 ngày 16/12/2024 của Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh vượng SMBV Về việc phúc đáp công văn số 584/YC-ĐTTH của Cơ quan CSĐT Công an huyện CP:

“1. Ông Nguyễn Văm M có ký kết hợp đồng vay thế chấp số 20240901-1934568 với VPB SMBC FC vào ngày 01/9/2024. Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, BKS: 29AP-002.08, số máy: JK03E3494607, Số khung: RLHJK0354RY170446.

2. Tính đến thời điểm hiện tại, ông Nguyễn Văm M chưa thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán khoản vay trên. Dư nợ gốc còn lại là: 23.810.507 đồng. Do đó hợp đồng tín dụng ký kết với ông Nguyễn Văm M vẫn còn hiệu lực.

3

3. Bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang BKS: 29AP-002.08 hiện đang được giữ tại VPB SMBC FC” (BL: 41-44)

- Ngày 20/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện CPtiến hành làm việc với anh Lê Văn Kh về việc giao nộp Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS; 29AP-002.08, anh Khiêm không đồng ý. Ngày 06/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện CPban hành Công văn số 12/YC-ĐTTH yêu cầu anh Lê Văn Kh giao nộp Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 29AP-002.08; Ngày 10/02/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện CPban hành Công văn số 39/YC-ĐTTH yêu cầu anh Lê Văn Kh giao nộp Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 29AP-002.08 mặc dù đã được giải thích quyền và nghĩa vụ của mình, anh Khiêm vẫn không đồng ý giao nộp Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 29AP-002.08, anh Khiêm sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm hình sự và dân sự đối với việc không giao nộp Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 29AP-002.08. (BL: 45-47, 83-87).

Quá trình điều tra thu giữ từ Chi 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu xanh, tình trạng đã qua sử dụng (BL: 48); từ anh Khiêm 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn xám đen, BKS: 29AP-002.08 (BL: 36); hiện lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện CP.

Cáo trạng số 04/CT-VKSCP ngày 20/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CPtruy tố Nguyễn Văn Ch về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 BLHS.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại cơ quan điều tra, đúng với hành vi như bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện CPtruy tố bị cáo. Bị cáo ăn năn, hối cải, có lời xin lỗi đến các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại Trần Lê Trung Anh yêu cầu Nguyễn Văn Ch trả lại số tiền 11.000.000Đ (Mười một triệu đồng).

Quá trình điều tra, bị hại anh Lê Văn Kh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật; tại phiên tòa anh Khiêm có đơn yêu cầu Tòa buộc bị cáo Chi trả lại số tiền 29.000.000Đ (Hai mươi chín triệu đồng).

Quá trình điều tra, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văm M yêu cầu Nguyễn Văn Ch tiếp tục trả góp chiếc xe mô tô BKS: 29AP-002.08 như đã thỏa thuận (BL: 85-86, 88-90). Tại phiên tòa anh Mạnh trình bày kể từ tháng 11 năm 2024 đến nay, anh Mạnh hàng tháng trực tiếp trả góp số tiền mua xe, đồng thời xuất trình biên lai về việc đã thanh toán xong khoản vay mua chiếc xe mô tô BKS: 29AP-002.08 và được nhận lại giấy đăng ký xe. Tổng số tiền anh Mạnh đã trả gốc và lãi khoản vay mua xe cho VPB SMBC FC là 31.000.000Đ. Anh Mạnh yêu cầu được nhận lại chiếc xe mô tô Honda Vision BKS: 29AP-002.08. Về số tiền ban đầu bị cáo Chi đã bỏ ra để mua xe và trả góp, anh Mạnh và Chi sẽ tự thỏa thuận thanh toán với nhau.

4

Tại phiên tòa, bị cáo Chi đồng ý với yêu cầu của anh Mạnh về việc trả lại xe mô tô BKS: 29AP-002.08 cho anh Mạnh và hai bên tự thỏa thuận với nhau về số tiền Chi đã bỏ ra để mua xe và trả góp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CPgiữ nguyên quyết định truy tố, phân tích lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định Nguyễn Văn Ch phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm (g) khoản 1 Điều 52, điểm (s) khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 47, 48, 50 BLHS; Điều 106 Bộ luật TTHS xử phạt Nguyễn Văn Ch từ 24 đến 30 tháng tù; buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho các bị hại; trả lại xe mô tô cho anh Mạnh và buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự và dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện CP, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; đúng với lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại cơ quan điều tra, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện nội dung vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do ý thức muốn chiếm đoạt tài sản của người khác, ngày 31/10/2024 Chi đã dùng thủ đoạn gian dối và đưa ra các thông tin giả để bán chiếc xe mô tô Vision cho anh Khiêm, chiếm đoạt số tiền 29.000.000Đ. Ngày 20/11/2024, Chi tiếp tục đưa các thông tin giả về việc giao dịch mua bán xe mô tô, dùng thủ đọan gian dối chiếm đoạt của anh Trung Anh số tiền 11.000.000Đ. Tổng số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của các bị hại là 40.000.000Đ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

5

[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo 02 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt nên phải bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm (g) khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã đến cơ quan công an đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm (s) khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt:

[4.1] Hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo.

[4.2] Hình phạt bổ sung: Do bị cáo lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về tang vật vụ án:

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu xanh, tình trạng đã qua sử dụng (BL: 48) thu giữ trong quá trình điều tra của bị cáo. Xét chiếc điện thoại là công cụ bị cáo sử dụng để liên lạc giao dịch trong quá trình thực hiện tội phạm do vậy cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn xám đen, BKS: 29AP-002.08 thu giữ trong quá trình điều tra. Xét chiếc xe không phải là công cụ phương tiện phạm tội, xe mang tên chính chủ là anh Nguyễn Văm M, anh Mạnh là người trực tiếp thanh toán toàn bộ số tiền vay trả góp mua xe còn lại cho Ngân hàng và đã được nhận lại đăng ký xe. Giữa anh Mạnh và bị cáo đề nghị tự thỏa thuận về số tiền Chi đã bỏ ra ban đầu mua xe và trả góp. Anh Mạnh có đơn đề nghị được nhận lại xe. Xét yêu cầu của anh Mạnh là hợp pháp do vậy cần tuyên trả lại chiếc xe mô tô cho anh Mạnh.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Các bị hại anh Khiêm, anh Trung Anh đều có yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã chiếm đoạt. Yêu cầu của các bị hại là hợp pháp do vậy buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Khiêm số tiền 29.000.000Đ (Hai mươi chín triệu đồng), bồi thường cho anh Trung Anh số tiền 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng).

[8] Về các vấn đề khác:

Đối với hành vi sử dụng Giấy tờ, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức của Nguyễn Văn Ch: Do anh Lê Văn Kh không giao nộp Giấy đăng ký xe mô tô BKS: 29AP-002.08 cho Cơ quan CSĐT, không thể tiến hành giám định thật giả đối với tài liệu trên, do vậy chưa có đủ căn cứ để xử lý Nguyễn Văn Ch về hành vi Sử dụng Giấy tờ, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Tại phiên tòa anh Khiêm xác nhận việc không giao nộp Giấy đăng ký xe mô tô trong quá trình điều tra và không giao nộp tại Tòa. Do vậy Tòa không đề cập giải quyết.

Đối với các đối tượng Làm giả Giấy tờ, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức cho Nguyễn Văn Ch: Do Chi không nhớ rõ thông tin trang Facebook mà Chi đã

6

liên hệ để làm giấy tờ giả, các thông tin trong điện thoại đều đã bị Chi xóa. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện CPkhông xác định được đối tượng đã thực hiện hành vi làm giả Giấy tờ, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Cơ quan CSĐT Công an huyện CPkhông đề cập xử lý, Tòa không xét.

Đối với Bùi Văn Quân, Triệu Văn Hợi, Bùi Văn Minh: Những người này không được biết về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Văn Ch; không ai được hưởng lợi từ hành vi lừa đảo của Chi; không ai giúp sức cho Chi trong việc đưa ra các thông tin gian dối để chiếm đoạt tài sản. Do vậy không có căn cứ xác định những người này là đồng phạm với Nguyễn Văn Ch về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Đối với số tiền Chi đã bỏ ra để mua chiếc xe mô tô Honda Vision, BKS: 29AP-002.08 và số tiền đã trả góp, tại phiên tòa anh Mạnh và bị cáo đã đề nghị tự thỏa thuận. Đây là thỏa thuận dân sự riêng giữa anh Mạnh và Chi, Tòa không đề cập giải quyết.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; do bị cáo phải bồi thường trách nhiệm dân sự cho các bị hại tổng số tiền 40.000.000Đ nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 40.000.000Đ x 5% = 2.000.000Đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 174; điểm (g) khoản 1 Điều 52; điểm (s) khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 50 BLHS;

    Tuyên bố: Nguyễn Văn Ch phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

    Xử phạt: Nguyễn Văn Ch 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 22/11/2024.

  2. Căn cứ vào: Điều 47, 48 BLHS; Điều 106 BLTTHS; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự.

    Tuyên: Tịch thu sung ngân sách nhà nước từ Nguyễn Văn Ch 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu xanh, tình trạng đã qua sử dụng, hiện lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện CPtheo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/02/2025.

    Tuyên: Trả lại cho anh Nguyễn Văm M 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn xám đen, BKS: 29AP-002.08 hiện lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện CPtheo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/02/2025.

    Tuyên: Buộc Nguyễn Văn Ch bồi thường cho anh Lê Văn Kh số tiền 29.000.000Đ (Hai mươi chín triệu đồng).

    Tuyên: Buộc Nguyễn Văn Ch bồi thường cho anh Trần Lê Trung Anh số tiền 11.000.000Đ (Mười một triệu đồng).

    Căn cứ vào các Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan Thi hành án dân sự có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày người được thi hành án có

7

đơn yêu cầu bị cáo phải thi hành án số tiền phải bồi thường nêu trên; nếu bị cáo chậm thi hành thì bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành tương ứng với thời gian chậm thi hành theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Căn cứ vào: Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23, 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH buộc Nguyễn Văn Ch phải nộp 200.000Đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST và 2.000.000Đ (Hai triệu đồng) án phí DSST.
  2. Căn cứ vào: Điều 331; 333 Bộ luật TTHS; Tuyên: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND huyện CP;
  • - Chi cục THADS TP Hòa Bình;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hòa Bình;
  • - Công an TP Hà Nội (quản lý lý lịch tư pháp);
  • - Người bị kết án; Người bị hại;
  • - UBND xã Vân Hòa, Ba Vì, Hà Nội;
  • - Những người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Thùy Linh

8

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP, TỈNH HÒA BÌNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 06/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử bị cáo 26 tháng tù giam.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger