TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 02/4/2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ - TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lục Minh Đường
Bà Mã Thị Thương Oanh
Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Triệu Xuân Trìu - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 73/2024/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 25/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 17/3/2025 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Dương Thị S, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- * Bị đơn: Anh Hoàng Văn L, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ngày 22/11/2024 và bản tự khai, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị Dương Thị S trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị S và anh Hoàng Văn L có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện B, tỉnh Bắc Kạn vào ngày 07/9/2012 trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện, không ai bị ép buộc hay lừa dối. Thời gian đầu kết hôn vợ chồng anh chị cùng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến cuối năm 2012 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, cãi vã và ngày càng trở nên trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn do anh L ghen tuông không rõ lý do và không cùng chị S chăm lo cho cuộc sống gia đình. Việc bất đồng quan điểm và không thể tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống dẫn đến sứt mẻ tình cảm vợ chồng, không thể hàn gắn được. Từ năm 2013 anh L bỏ đi làm thuê ở địa phương khác nên thường xuyên vắng nhà, ít khi liên lạc với gia đình, nếu có cũng chỉ qua điện thoại và nội dung chủ yếu là cãi vã, không có sự chia sẻ tỉnh cảm. Cùng thời điểm đó chị S cũng chuyển về nhà mẹ đẻ tại thôn N, xã K, huyện B để sinh sống. Anh chị chính thức ly thân cho đến nay mỗi người một cuộc sống riêng, không ai quan tâm, hỏi han đến ai.
Nay, chị S nhận thấy tình cảm đã không còn, cả hai vợ chồng không muốn chăm sóc, gắn bó, chia sẻ để xây dựng gia đình với nhau nữa (hôn nhân của chị S và anh L cũng không còn tồn tại trên thực tế trong suốt 12 năm qua), mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó chị S yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L và đã thông báo cho anh L được biết về yêu cầu khởi kiện của mình.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Chị S và anh L có 01 (Một) con chung là cháu Hoàng Dương S1, sinh ngày 05/7/2012, con chung khỏe mạnh và phát triển bình thường. Nếu được ly hôn, chị S yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi con vì hiện nay chị có công việc và thu nhập ổn định, các điều kiện sống cũng như thu nhập của chị S đủ để nuôi sống và đảm bảo điều kiện phát triển cho con chung còn về phía anh L ít khi liên hệ hỏi han, quan tâm đến con cái và cũng không thực hiện nghĩa vụ chu cấp cho con. Chị S cùng chung sống với mẹ đẻ ở thôn N, xã K, huyện B, tỉnh Bắc Kạn từ năm 2013 cho đến nay nên gia đình chị cũng giúp đỡ được nhiều trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Chị S không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Vì lý do gia đình, chị S không sắp xếp được thời gian để tham gia phiên tòa, do vậy, chị S có văn bản về việc giữ nguyên toàn bộ ý kiến, lời khai đối với các vấn đề cần giải quyết trong vụ án và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt đối với chị S.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Hoàng Văn L không có mặt tại nơi cư trú.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Hoàng Văn L theo địa chỉ thôn C, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn là nơi cư trú của anh L theo xác nhận thông tin về cư trú của Công an xã Q nhưng không thấy anh L có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án. Anh L cũng không đến Tòa án tham gia tố tụng theo yêu cầu. Tòa án đã nhiều lần đến địa chỉ nhà anh Hoàng Văn L tại địa chỉ trên để giao, tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng khác nhưng không lần nào gặp được anh Hoàng Văn L. Do đó, Tòa án không thể thực hiện được việc cấp, tống đạt, thông báo các giấy tờ, văn bản tố tụng cho anh L.
Để đảm bảo quyền lợi của đương sự và đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đồng thời tiến hành xác minh, niêm yết công khai thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, về phiên hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa tại nơi cư trú cuối cùng của anh L.
* Các tài liệu do Tòa án thu thập, xác minh tại địa phương thể hiện:
Chị Dương Thị S và anh Hoàng Văn L có quen biết, tìm hiểu và có tình cảm với nhau nên đã tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn hợp pháp vào ngày 07/9/2012 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện B, tỉnh Bắc Kạn theo quy định. Việc kết hôn của chị S và anh L trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện, không ai bị ép buộc hay lừa dối. Sau khi kết hôn chị S và anh L cùng sinh sống tại thôn C, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Quá trình hôn nhân, thời gian đầu vợ chồng anh chị cùng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Sau đó hai vợ chồng anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã, đến khoảng năm 2013 thì anh L đã bỏ đi làm ăn tại địa phương khác, tuy nhiên thi thoảng anh có về nhà tại thôn C để thăm gia đình, đồng thời hộ khẩu thường trú của anh L vẫn ở thôn C, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
* Tại phiên toà:
- Đại diện viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì về tố tụng.
- Vắng mặt nguyên đơn (có đơn xin xét xử vắng mặt) và bị đơn (không có lý do). Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Viện kiểm sát đề nghị hội đồng xét xử căn cứ: khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147/BLTTDS; Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 58; 81; 82; 83; 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị S được ly hôn với anh Hoàng Văn L.
+ Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Giao con chung Hoàng Dương S1, sinh ngày 05/7/2012 cho chị Dương Thị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn, anh L được quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con chung, đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề nghị HĐXX xem xét.
+ Về tài sản chung, vay nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề nghị HĐXX xem xét.
+ Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/11/2024, nguyên đơn chị Dương Thị S đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Hoàng Văn L và giải quyết tranh chấp nuôi con chung. Chị S và anh L có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn và con chung được khai sinh đúng quy định. Xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Các đương sự đều cư trú tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể.
[2]. Về thủ tục tố tụng:
Tòa án đã tiến hành các trình tự thủ tục tố tụng về thụ lý vụ án; xem xét xác minh thu thập tài liệu chứng cứ; thông báo để các bên đương sự tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai tài liệu, chứng cứ; hòa giải việc nuôi con chung và ghi nhận ý kiến của đương sự được kịp thời, đúng quy định của pháp luật. Đảm bảo sự có mặt tham gia xét xử của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm.
Tại phiên tòa, nguyên đơn Dương Thị S vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn Hoàng Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238/BLTTDS tiến hành xét xử vắng các đương sự theo quy định.
[3]. Về nội dung vụ án:
* Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị S và anh Hoàng Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện B, tỉnh Bắc Kạn vào ngày 07/9/2012 nên xác định hôn nhân của các đương sự là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Đến cuối năm 2012 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm sống, thiếu sự quan tâm, chăm sóc, yêu thương và tôn trọng nhau, gia đình hai bên cũng đã khuyên can, hòa giải nhưng tình cảm hai vợ chồng vẫn không thay đổi, không tìm được tiếng nói chung. Anh L đã đi làm ăn tại địa phương khác, bỏ mặc hôn nhân dẫn đến việc anh chị sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Quá trình ly thân, chị S và anh L mỗi người một cuộc sống riêng, không ai quan tâm, hỏi han đến ai, không còn tình nghĩa vợ chồng và cuộc sống hôn nhân cũng không còn tồn tại trên thực tế, nay chị S không còn tình cảm với anh L nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.
Như vậy, phải khẳng định rằng mối quan hệ hôn nhân giữa chị S và anh L đã có nhiều mâu thuẫn xảy ra và ngày càng trầm trọng, anh chị đã không còn tình cảm và tiếng nói chung với nhau trong cuộc sống. Với tình trạng hôn nhân như vậy, xét thấy có vi phạm nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo luật Hôn nhân và gia đình, mục đích xây dựng cuộc sống hôn nhân hạnh phúc của anh chị không đạt được, nên cần thiết chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị S, giải quyết cho chị S được ly hôn anh L.
* Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Chị S và anh L có 01 (Một) con chung là cháu Hoàng Dương S1, sinh ngày 05/7/2012, con chung khỏe mạnh và phát triển bình thường.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án không tiến hành làm việc được với anh L để ghi nhận ý kiến về việc nuôi con chung cũng như xác định cụ thể về điều kiện nuôi con của anh L.
Hội đồng xét xử xét thấy lâu nay chị S là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, hơn nữa chị S ngoài công việc làm nông ở nhà còn đi làm thuê một số công việc, có thu nhập ổn định khoảng 5.000.000đ/tháng, có đủ điều kiện kinh tế để nuôi con và đảm bảo cho con chung được phát triển lành mạnh, ổn định về mọi mặt. Tòa án tiến hành ghi nhận ý kiến của con chung Hoàng Dương S1 (13 tuổi) có nguyện vọng được ở cùng với mẹ là chị Dương Thị S khi bố mẹ ly hôn. HĐXX xét thấy về điều kiện nuôi con của chị S là đảm bảo, nên cần chấp nhận yêu cầu của chị S, giao con chung Hoàng Dương S1, sinh ngày 05/7/2012 cho chị Dương Thị S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi là có căn cứ.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Dương Thị S không yêu cầu anh Hoàng Văn L cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Anh Hoàng Văn L được đảm bảo quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định.
* Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị Dương Thị S không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[4]. Về án phí: Chị Dương Thị S phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[5]. Đối với đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238/BLTTDS; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 69; Điều 71; Điều 81, Điều 82, Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của chị Dương Thị S.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị S được ly hôn với anh Hoàng Văn L.
- Về con chung: Giao con chung Hoàng Dương S1, sinh ngày 05/7/2012 cho chị Dương Thị S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Dương Thị S không yêu cầu anh Hoàng Văn L cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Anh Hoàng Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị Dương Thị S không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[2]. Về án phí:
Chị Dương Thị S phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002344 ngày 29/11/2024. Xác nhận chị S đã nộp đủ tiền án phí.
[3]. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thùy Linh |
Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 02/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ - TỈNH BẮC KẠN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ - TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của chị Dương Thị S.
