|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 06/2025/HNGĐ-PT Ngày: 01/4/2025 V/v Chia tài sản sau ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Thúy Nga.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Định
Bà Tôn Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Sóc Trăng: Ông Sơn Cươl- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 26 tháng 3 và ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2024/TLPT- HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024, về việc “Chia tài sản sau ly hôn”
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 63/2024/HNGĐ-ST, ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 324/2024/QĐ-PT ngày 16 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Thúy A, sinh năm 1990; Địa chỉ: Ấp N, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1965. Địa chỉ 2 V, phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Trí H1, sinh năm: 1987; Địa chỉ thường trú: Ấp N, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long. (Có mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Trương Ngọc S Luật sư của Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh V (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Trách nhiệm hữu hạn P1; Địa chỉ: E L, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
- Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị H2; sinh năm: 1979. (Vắng mặt) Địa chỉ: A Đường C, khóm A, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Nguyễn Văn C; sinh năm: 1987.(Vắng mặt) Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
- Người kháng cáo: Ông Lê Trí H1 là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/10/2023 cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phan Thị Thúy A trình bày:
Bà và ông Lê Trí H1 là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 10 vào ngày 23/02/2016. Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung, đứa lớn sinh năm: 2016, đứa nhỏ sinh năm: 2019. Đến ngày 27 tháng 4 năm 2023, bà và ông H1 ly hôn (Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 27/2023/QÐST-HNGĐ ngày 27/4/2023 Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng), các con do bà nuôi dưỡng và không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng. Trong quá trình sống chung trong thời kỳ hôn nhân bà và ông H1 có tạo lập được một số tài sản và nợ chung cụ thể như:
Thửa đất số 948, tờ bản đồ số 02, diện tích 551,5m², mục đích sử dụng: Đất thương mại, dịch vụ; Thời hạn sử dụng: Đến ngày 28/10/2054; Đất tọa lạc tại ấp N, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 312696 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 21/12/2015 cho ông Lê Trí H1.
Thửa đất số 988, tờ bản đồ số 02, diện tích 102m², mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn; Thời hạn sử dụng: Lâu dài; Đất tọa lạc tại ấp N, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C1 329218 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 06/07/2017, cho ông Lê Trí H1 và bà Phan Thị Thúy A.
Trên hai thửa đất này có các công trình xây dựng như: Căn nhà cấp 4, dãy nhà trọ, các loại cây trồng, trụ bơm xăng dầu. Bà Thúy A yêu cầu chia đất và tài sản gắn liền trên đất. Bà yêu cầu nhận hiện vật và trả giá trị cho ông H1.
Tiền mặt 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) hiện nay ông Lê Trí H1 đang quản lý, số tiền này do bà A và ông H1 bán dãy nhà nghỉ vào năm 2022. Bà Thúy A yêu cầu chia đôi.
Về nợ chung: Trong quá trình kinh doanh trụ bơm xăng dầu của Doanh nghiệp tư nhân T2 đến nay thì bà A và ông H1 có nợ của Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Phượng N số tiền 312.000.000 (Ba trăm mười hai triệu) đồng. Nhưng do hiện nay phía Công ty TNHH P1 không có yêu cầu độc lập, nên bà Thúy A không yêu cầu xem xét.
Bà thống nhất với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và giá trị tài sản tranh chấp theo Chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần T3.
Nguồn gốc phần tài sản này là do bà và ông H1 chuyển nhượng từ công ty D1 vào năm 2015. Khi chuyển nhượng, do bà và ông H1 chưa đăng ký kết hôn, nên bà để cho ông H1 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vào thời điểm chuyển nhượng, trên đất chỉ có căn nhà tiền chế, trụ xăng dầu và dãy nhà nghỉ. Đến năm 2018, bà và ông H1 mới cất căn nhà cấp 4. Hiện nay phần tài sản này do bà đang quản lý, sử dụng.
Bị đơn ông Lê Trí H1 trình bày:
Ông không nhớ rõ thời điểm chung sống với bà Thúy A. Ông xác định hai bên đăng ký kết hôn năm 2016. Đến năm 2023, thì cả hai thuận tình ly hôn.
Việc bà Thúy A trình bày trong quá trình chung sống ông và bà Thúy A có tạo lập được hai thửa đất số 948, 988, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại Ấp N, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng là không đúng. Vì thửa 948, 988 là tài sản riêng của ông. Thửa 948 được cấp giấy năm 2015 – là tài sản có trước thời kỳ hôn nhân. Sau này ông mới cho bà Thúy A đứng tên chung thửa đất số 988 do cả hai đã có con chung. Nguồn gốc số tiền mua hai thửa đất này đều do ông bỏ ra, vì khi về sống với ông gia cảnh bà Thúy A gặp nhiều khó khăn. Khi mua thửa 948 thì đã có sẵn nhà tiền chế và trụ bơm xăng dầu. Ông mua đất thửa 948 từ Công ty D1, do ông Nguyễn Bá N1 đại diện bán, ông N1 là người nhận tiền từ ông. Ông không nhớ rõ số tiền mua là bao nhiêu, nhưng ông N1 đã nhận tiền mua đất của ông với số tiền 120.000.000 (Một trăm hai mươi triệu) đồng. Còn việc bà Thúy A trình bày mua đất từ bà Nguyễn Thị H2 là không đúng sự thật. Vì bà H2 chỉ là người môi giới bán đất đối với phần đất thửa 948. Đến năm 2018, thì ông và bà Thúy A cất nhà trên hai thửa đất 948 và 988. Ông chỉ thừa nhận nhà là tài sản chung của hai vợ chồng.
Đối với phần tiền bán nhà nghỉ 1.000.000.000 (Một tỷ) đồng thì ông thừa nhận vào năm 2022, vợ chồng có bán nhà nghỉ ở Sóc Trăng với giá 4.500.000.000 (Bốn tỷ, năm trăm triệu) đồng cho ông Nguyễn Văn C. Nhưng sau đó ông đã chuyển cho bà Thúy A tổng cộng 2.900.000.000 (Hai tỷ, chín trăm triệu) đồng để bà Thúy A trả nợ riêng, trả nợ chung như sau:
Các khoản nợ chung: Nợ Ngân hàng B1 số tiền 1.530.000.000 (Một tỷ, năm trăm ba mươi triệu) đồng; tiền cò nhà nghỉ: 90.000.000 (chín mươi triệu) đồng.
Ngoài ra bà Thúy A còn liệt kê các khoản nợ riêng của bà Thúy A như: Tiền nợ ngân hàng B2: 800.000.000 (Tám trăm triệu) đồng; Tiền cọc nhà nghỉ: 100.000.000 (một trăm triệu) đồng; Tiền nợ mẹ vợ: 90.000.000 (chín mươi triệu) đồng. Nợ tiền dầu: 290.000.000 (hai trăm chín mươi triệu) đồng. Vì còn thương vợ nên ông H1 đã chuyển các khoản tiền này cho bà Thúy A, chứ thực chất đây là các khoản nợ bà Thúy A tự kê, không phải nợ chung. Do đó đối với việc bà Thúy A yêu cầu chia số tiền bán nhà nghỉ còn dư 1.000.000.000 (Một tỷ) đồng, thì ông không đồng ý.
Đối với việc bà Thúy A yêu cầu chia đôi số tiền về nợ chung Công ty trách nhiệm hữu hạn Phượng Nhung: Thì đây là nợ riêng của bà Thúy A, ông không biết nên không đồng ý. Từ trước đến giờ phía cây xăng của DNTT Trí Hiểu đã tạm ngưng hoạt động, nên việc bà Thúy A tự ý bán và thiếu nợ thì tự chịu.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/6/2024, cũng như Đơn đề nghị giải quyết vắng mặt ngày 19/8/2024, người đại diện theo pháp luật của Công ty Trách nhiệm hữu hạP1 (TNHH) Phượng Nhung, ông Lê Thành H3 trình bày:
Ông có nhận được các văn bản tố tụng do Tòa án gửi đến. Ông xác nhận ông có viết ký tên vào “Giấy xác nhận nợ mua bán xăng dầu” ngày 24/11/2023 do bà Phan Thị Thúy A làm giấy xác nhận. Theo đó, bà Thúy A là trực tiếp giao dịch với Công ty TNHH P1 để mua xăng dầu. Giữa các bên đã mua bán xăng dầu với nhau từ rất lâu. Sau đó thì chốt nợ lại, theo đó doanh nghiệp tư nhân T2 do bà Thúy A trực tiếp giao dịch với ông, còn nợ lại ông số tiền 312.000.000 (Ba trăm mười hai triệu) đồng.
Đối với số tiền này, trong vụ án phía Công ty TNHH P1 không có yêu cầu độc lập. Công ty TNHH P1 không yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Thúy A và ông Trí H1 có trách nhiệm trả. Do các bên đã tự thỏa thuận xong. Việc nợ này bà Thúy A có cam kết sẽ trả nợ cho công ty, nên ông không yêu cầu Tòa án xem xét. Ông cũng yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt theo các giấy triệu tập của Tòa. Do ông bận việc không thể tham dự được. Ông cam kết không khiếu nại đối với việc vắng mặt tại Tòa.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 31/7/2024, người làm chứng bà Nguyễn Thị H2 trình bày:
Bà và bà Phan Thị Thúy A, ông Lê Trí H1 không có mối quan hệ gì. Bà cũng không có mâu thuẫn với bà Phan Thị Thúy A và ông Lê Trí H1.
Bà là nhân viên của Công ty D1 từ năm 2010. Trước bà quê ở N, sau này khi làm cho công ty D1, bà chuyển vào Ấp Nhất, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng sinh sống tại đây khoảng 5,6 năm để bán xăng dầu cho Công ty.
Vào năm 2015, bà được ông Nguyễn Bá N1 - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty D1 – ủy quyền cho bà đứng ra giao dịch mua bán phần đất và tài sản gắn liền với đất gồm có căn nhà tiền chế, dãy nhà trọ, cây xăng tọa lạc tại Ấp N, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng cho bà Thúy A và ông Lê Trí H1.
Việc mua bán là do bà trực tiếp thỏa thuận với bà Thúy A và ông H1. Thời điểm đó, giá chuyển nhượng phần đất này là 300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng, nhưng sau này bán cho bà Thúy A và ông H1 với giá 290.000.000 (Hai trăm chín mươi triệu đồng), bà là người đứng ra nhận tiền. Còn các giấy tờ sang tên đất thì do ông N1 làm, bà không biết nội dung hợp đồng chuyển nhượng giữa hai bên như thế nào. Thời điểm nhận tiền là do bà Thúy A và ông H1 là người giao tiền cho bà. Việc giao nhận tiền chia làm nhiều lần, nhưng đều do bà Thúy A và ông H1 đến gặp bà giao tiền. Việc mua bán diễn ra vào tháng 8,9/2015, do thời gian đã lâu nên không nhớ rõ.
Giấy xác nhận ngày 17/10/2023 là do bà Thúy A lập sẵn, bà có đọc qua thấy đúng nên có ký cho bà Thúy A, bà Thúy A nhờ bà làm là để xác nhận thời điểm đó bà có bán nhà và cây xăng cho bà Thúy A. Bà thấy nội dung ghi đúng sự thật nên bà ký.
Đối với phần đất và tài sản gắn liền với đất tại ấp N, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng, thì hiện trạng lúc bà còn sinh sống và làm việc tại đây thì nó là căn nhà tiền chế có cây xăng, ngoài ra còn có dãy nhà trọ - được xây cất để nhân viên có chỗ nghỉ. Căn nhà tiền chế có kết cấu mái tol, nền tráng xi măng, xung quanh lưới B40. Việc bà Thúy A và ông H1 có đăng ký kết hôn chưa thì bà không biết. Nhưng do sống cùng xóm nên bà biết họ là vợ chồng.
Do ở xa nên bà xin vắng mặt theo các giấy triệu tập của Tòa. Bà cam kết những gì bà đã khai là sự thật và chịu trách nhiệm với lời khai của mình. Trong vụ án này bà không có yêu cầu gì khác. Ngoài ra bà không còn ý kiến gì trình bày.
Tại Biên bản ghi lời khai ngày 29/7/2024 người làm chứng ông Nguyễn Văn C trình bày:
Ông và bà Phan Thị Thúy A, ông Lê Trí H1 không có mối quan hệ gì. Ông cũng không có mâu thuẫn với bà Phan Thị Thúy A và ông Lê Trí H1. Ông C biết vợ chồng ông H1 là do vào năm 2022, ông và vợ Huỳnh Thị N2 có chuyển nhượng căn nhà nghỉ tại số I đường D, khóm E, phường C, thành phố S tỉnh Sóc Trăng của bà Thúy A và ông Trí H1. Ông chuyển nhượng nhà nghỉ với giá 4.500.000.000 (Bốn tỷ, năm trăm triệu) đồng. Hai bên có làm hợp đồng công chứng. Hiện nay thì hai bên đã hoàn tất việc giao nhận nhà tiền, ông đã được sang tên giấy tờ nhà đất. Tại thời điểm chuyển nhượng thì ông là người giao tiền cho ông H1 – việc giao tiền này có sự đồng ý của bà Thúy A, cụ thể như sau:
- Vào ngày ký hợp đồng chuyển nhượng 16/8/2022, tôi đặt cọc 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng – tại văn phòng C1 bằng hình thức chuyển khoản cho ông Lê Trí H1.
- 15 ngày sau, ông và ông Lê Trí H1 đến Ngân hàng B1, tại đây ông đưa tiền mặt 1.500.000.000 (Một tỷ rưỡi) để ông H1 lấy giấy tờ đất ra (đối với phần đất hai bên đã giao dịch) và thực hiện việc xóa nợ Ngân hàng.
- Sau đó một ngày, ông và ông H1 lên lấy giấy tờ đất và qua Văn phòng công chứng sang tên. Sau đó ông chuyển khoản thêm 900.000.000 (Chín trăm triệu) đồng vào tài khoản A1 của ông Lê Trí H1.
Tổng cộng ông đã giao cho ông Lê Trí H1 2.500.000.000 (Hai tỷ rưỡi) thông qua hình thức chuyển khoản và tiền mặt. Còn 2.000.000.000 (Hai tỷ) đồng, do ông vay tiền của Ngân hàng V – chi nhánh S1 để mua nhà nghỉ, nên sau đó phía V đã chuyển khoản số tiền 2.000.000.000 (Hai tỷ) đồng vào tài khoản V của ông Lê Trí H1. Ông có đưa cho bà Thúy A phiếu ủy nhiệm chi do bên V cung cấp cho ông. Ông không nhớ rõ chính xác ngày chuyển khoản, nhưng thời gian chuyển là vào tháng 09/2022.
Việc chuyển nhượng mua nhà nghỉ, thì ông Lê Trí H1 đều là người nhận tiền của ông, thông qua hình thức chuyển khoản và nhận tiền mặt. Việc giao nhận tiền đều có sự đồng ý của bà Thúy A.
Do ở xa nên ông xin vắng mặt theo các giấy triệu tập của Tòa. Ông cam kết những gì đã khai là sự thật và chịu trách nhiệm với lời khai của mình. Trong vụ án này ông không có yêu cầu gì khác. Ngoài ra ông không còn ý kiến gì trình bày.
Vụ án được Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết theo trình tự sơ thẩm. Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 63/2024/HNGĐ-ST ngày 05-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 147; Điều 157, Điều 165; Điều 244; Điều 271, khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Căn cứ vào Điều 33; 59; 62; 64 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- + H: Giáp kênh thủy lợi có số đo 12,4m.
- + Hướng T: Giáp sông S có số đo 12,6m.
- + Hướng Nam: Giáp thửa 988 do ông Lê Trí H1 và bà Phan Thị Thúy A quản lý, sử dụng có số đo 41,97m.
- + Hướng B: Giáp kênh thủy lợi có số đo 42,5m.
- + H: Giáp kênh thủy lợi có số đo 1,1m và giáp phần đất do bà Lâm Thị N3 (vợ ông Trần Văn D) quản lý, sử dụng có số đo 2,4m.
- + Hướng T: Giáp sông S có số đo 3,5m.
- + Hướng Nam: giáp phần đất do bà Lâm Thị N3 (vợ ông Trần Văn D) quản lý, sử dụng có số đo 20,1m và ông Lê Văn P (chồng bà Lê Thị T1) đang quản lý, sử dụng có số đo 9,4m + 12, 2m.
- + Hướng B: Giáp thửa đất 948 do ông Lê Trí H1 quản lý, sử dụng có số đo 41,97m.
- + 01 bờ tường lợp bằng tol có số đo ngang 3,4m, dài 7,15m, cao 2,25m.
- + 01 cột bê tông: 0,15m x 0,15m x 1,3m.
- + 01 bờ tường lợp bằng tol có số đo dài 5,85m (đo từ cột bê tông). Ngoài ra trên phần đất còn có 01 phần căn nhà cấp 4.
- Ông Lê Trí H1 được nhận ½ trị giá quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa 948 và 988 với số tiền là 494.640.500 (Bốn trăm chín mươi bốn triệu, sáu trăm bốn mươi ngàn, năm trăm) đồng.
- Chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị Thúy A về việc yêu cầu chia đôi số tiền 1.000.000.000 (Một tỷ) đồng. Buộc ông Lê Trí H1 có trách nhiệm giao cho bà Phan Thị Thúy A số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về chi phí tố tụng: Số tiền 18.558.084 đồng (Mười tám triệu, năm trăm năm mươi tám ngàn, không trăm tám mươi tư) đồng. Bà Phan Thị Thúy A và ông Lê Trí H1 mỗi bên phải chịu 9.279.042 (Chín triệu, hai trăm bảy mươi chín ngàn, không trăm bốn mươi hai) đồng. Do bà Thúy A đã tạm ứng trước ông H1 có trách nhiệm hoàn trả cho bà Thúy A số tiền 9.279.042 (Chín triệu, hai trăm bảy mươi chín ngàn, không trăm bốn mươi hai) đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
Công nhận phần đất có diện tích 528,2m² (Theo đo đạc thực tế) thuộc thửa 948, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại Ấp N, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 312696 do UBND huyện L, tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông Lê Trí H1 ngày 21/12/2015 và thửa đất 988, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho ông Lê Trí H1 và bà Phan Thị Thúy A là tài sản chung của bà Phan Thị Thúy A và ông Lê Trí H1.
- Giao cho bà Phan Thị Thúy A được nhận quyền quản lý và sử dụng phần đất và tài sản trên đất thuộc thửa 948 có diện tích, có tứ cận như sau:
Diện tích: 528,2m².
Trên phần đất có căn nhà cấp 4 có diện tích ngang (4,95m x 13,15m)+ (7,9m x 5,3m), kết cấu khung cột bê tông cốt thép, vách tường, mái tol, nền gạch men, có trần, cửa nhôm, tường ốp gạch men.
Dãy nhà trọ: Có diện tích (4,05m x 17,6m) + (4,1m x 6m); kết cấu: Khung cột bê tông cốt thép.
Mái che 01: có diện tích (1,3m x 17,6m) + (3,4m x 13,7m) + (12,6m x 4,3m) + (4,6m x 1,1m); kết cấu: mái tol, kết cấu đỡ bằng thép, nền láng xi măng.
Mái che 02: có diện tích 3,9m x 7,9m; kết cấu mái tol, kết cấu đỡ bằng thép, nền gạch men.
Ngoài ra còn có hồ nước có diện tích ( 4,4m x 1,7m x0,65m) + ( 1,9m x 1,9m x 0,65m) + (1,7m x 1,7m x 1,6m), xây tường 10, có tô.
Ngoài ra còn có công trình khác như: Sàn gỗ có diện tích 2,8m x 16m; 01 bồn chứa xăng dầu có diện tích 15 khối, 02 trụ bơm xăng dầu và 01 vách tường lửng dài 11,8m, cao 0,6m; 01 bờ tường xây gạch có số đo ngang 2,9m, dài 4,17m.
Các cây trồng trên đất gồm: Chuối: A: 01 cây; B: 09 cây; Dừa A; 04 cây; Dừa B: 04 cây; Dừa loại C: 04 cây. Cây mít B: 01 cây; cây mận A: 01 cây; cây Bơ A: 01 cây; Cây sơ ri A: 01 cây. Cây cau A: 01 cây. Cây xoài A: 01 cây; cây mãng cầu A: 01 cây.
- Giao cho bà Phan Thị Thúy A được nhận quyền quản lý và sử dụng phần đất và tài sản trên đất thuộc thửa 988 có diện tích, có tứ cận như sau:
Diện tích: 97,5m².
Hiện trạng trên đất gồm có:
Có các cây trồng: Cây sake loại A: 01 cây; Dừa loại B: 01 cây; loại C: 01 cây; cây mít loại C: 01 cây; cây chuối loại A: 01 cây, loại B: 05 cây.
Bà Phan Thị Thúy A có nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục kinh doanh theo quy định.
Buộc bà Phan Thị Thúy A có trách nhiệm hoàn trả cho ông Lê Trí H1 giá trị tài sản chung với số tiền là 494.640.500 (Bốn trăm chín mươi bốn triệu, sáu trăm bốn mươi ngàn, năm trăm) đồng.
Kể từ khi ông Lê Trí H1 có đơn yêu cầu thi hành án, thì hàng tháng bà Phan Thị Thúy A còn phải trả lãi theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự trong khoảng thời gian chậm thi hành án.
Kể từ khi bà Phan Thị Thúy A có đơn yêu cầu thi hành án, thì hàng tháng ông Lê Trí H1 còn phải trả lãi theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự trong khoảng thời gian chậm thi hành án
Bà Phan Thị Thúy A phải chịu án phí là 41.839.215 (Bốn mươi mốt triệu, tám trăm ba mươi chín ngàn, hai trăm mười lăm) đồng. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là theo biên lai thu số 0000604 ngày 08/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà Phan Thị Thúy A còn phải nộp thêm 13.339.215 (Mười ba triệu, ba trăm ba mươi chín ngàn, hai trăm mười lăm) đồng.
Ông Lê Trí H1 phải chịu 41.839.215 (Bốn mươi mốt triệu, tám trăm ba mươi chín ngàn, hai trăm mười lăm) đồng.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024 bị đơn ông Lê Trí H1 kháng cáo nội dung: yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Thúy A. Cụ thể:
- Xác định thửa đất số 988 và các tài sản gắn liền trên đất là tài sản chung của ông và bà Thúy A, từ đó chia đôi các tài sản này theo quy định của pháp luật. Đồng ý nhận 50% này bằng giá trị và giao hiện vật cho bà A nhận. Tuy nhiên, việc nhận giá trị phải theo giá thị trường tại thời điểm xét xử phúc thẩm.
- Xác định thửa đất số 948 là tài sản riêng của ông. Trường hợp bà Thúy A có nhu cầu nhận thửa đất này để sử dụng thì phải hoàn lại 100% giá trị thửa đất số 948 cho ông theo giá thị trường tại thời điểm xét xử phúc thẩm.
- Xác định số tiền còn lại từ việc bán thửa đất số 75 và nhà nghỉ: ông đang giữ 300.000.000đ và bà Thúy A đang giữ 1.280.000.000đ. Từ đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thúy A đòi ông hoàn lại số tiền 500.000.000đ.
Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện; Bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày: Yêu cầu sử dụng kết quả định giá của Công ty T4 để giải quyết vụ án vì mức giá này là phù hợp; Yêu cầu xác định thửa 948 là tài sản riêng của ông H1, ông H1 đồng ý ký ủy quyền để vay nợ chứ không đồng ý nhập tài sản này vào tài sản chung, việc xác định thửa 948 là tài sản riêng là có cơ sở; Không đồng ý hoàn trả 500.000.000₫ do nguyên đơn cho rằng ông H1 còn đang giữ 1.000.000.000đ, ông H1 cho rằng đã chi trả các khoảng không phải là nợ chung như: nợ 800.000.000đ của ngân hàng B2, những lần sau không ký tên nên không biết, yêu cầu đối chiếu xác định việc chuyển khoản, có trả cho mẹ 700.000.000đ nên ông H1 chỉ còn lại 300.000.000đ có văn bản xác nhận của Ủy ban xã. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Lê Trí H1. Ông Lê Trí H1 không có ý kiến bổ sung
Tại phiên tòa người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho nguyên đơn trình bày tranh luận: Việc định giá của công ty Cổ phần T3 là chính xác do giá trị xác định tại thời điểm cấp sơ thẩm, do đó chứng thư này có giá trị 6 tháng đến xét xử sơ thẩm chỉ 3 tháng, nên việc áp dụng chứng thư mới không phù hợp; Xác định thửa 948 là tài sản tiêng do ông H1 đứng tên, năm 2012 đã sống chung, làm ăn chung, nợ chung mặc dù tài sản này do ông H1 đứng tên qua 2 hợp đồng thế chấp được sự đồng ý của ông H1 đồng ý thế chấp 2 thửa đất này thể hiện đã đưa vào sử dụng chung 2 thửa đất, căn nhà cất trên 2 thửa đất đã đưa vào sử dụng chung nên xem là tài sản chung của 2 vợ chồng; Yêu cầu chia 500.000.000 đ, hiện ông H1 đang giữ 1.600.000.000₫ bà A đã chứng minh trong 4.500.000.000₫ ông H1 đã chuyển 2.900.000.000đ, bà A đã chứng minh đã chi các khoảng gì, yêu cầu chia 500.000.000đ là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm, bác yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tại phiên tòa phúc thẩm trình bày: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm là đúng trình tự tố tụng. Về việc giải quyết vụ án Kiểm sát viên cho rằng kháng cáo của bị đơn ông Lê Trí H1 là có căn cứ để chấp nhận một phần nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa một phần bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
- Về hình thức, nội dung và thời hạn kháng cáo của ông Lê Trí H1 là đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo.
- Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt và những người làm chứng, những người này đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt họ.
- Về nội dung: Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 63/2024/HNGĐ-ST ngày 05-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng đã giải quyết vấn đề về chia tài sản sau khi ly hôn. Không đồng ý với việc xác định tài sản chung của quyết định của cấp sơ thẩm nên bị đơn kháng cáo.
- Xét kháng cáo của bị đơn ông Lê Trí H1 yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xác định thửa đất số 988 và các tài sản gắn liền trên đất là tài sản chung của ông và bà Thúy A, từ đó chia đôi các tài sản này theo quy định của pháp luật. Đồng ý nhận 50% này bằng giá trị và giao hiện vật cho bà A nhận. Tuy nhiên, việc nhận giá trị phải theo giá thị trường tại thời điểm xét xử phúc thẩm. Nhận thấy:
- Về xác định giá đất: Quá trình giải quyết cấp phúc thẩm, bị đơn kháng cáo trong đó có nội dung yêu cầu định giá các thửa đất số 948, 988 lại theo giá thị trường do ở cấp sơ thẩm giá đất định giá chưa phù hợp. Tòa án tiến hành định giá tài sản và sau khi định giá lại Tòa án tiến hành thông báo kết quả định giá và bà A cho rằng không đồng ý với giá này nhưng không yêu cầu định giá lại, do vậy cấp phúc thẩm lấy giá thẩm định của Công ty Cổ phần T4 làm căn cứ giải quyết về giá đất tại 02 thửa 948 và 988 là phù hợp.
- Theo chứng thư thẩm định giá của Công ty Cổ phần T4 thì giá trị của thửa đất số 988 là 128.000.000 đồng và theo kết quả thẩm định giá của Công ty Cổ phần T3 thì tài sản trên đất có trị giá 6.512.460 đồng = 134.512.460 đồng. Nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận thửa đất trên và các tài sản trên đất là tài sản chung của vợ chồng nên cấp sơ thẩm xác mỗi người được chia 50% tài sản và giao cho bà A được nhận hiện vật là toàn bộ thửa đất và các tài sản, cây trồng trên đất, đồng thời bà A thối lại 50% giá trị đất và tài sản trên đất cho ông H1 là phù hợp với ý chí và nguyện vọng của các bên, phù hợp với khoản 2, khoản 3 Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do tại phiên tòa phúc thẩm giá trị đất theo kết quả thẩm định giá tăng so với giai đoạn xét xử sơ thẩm nên việc xác định giá trị tài sản có sự thay đổi nên yêu cầu của ông H1 yêu cầu chia ½ giá trị tài sản là quyền sử dụng đất theo giá thị trường tại giai đoạn phúc thẩm là có căn cứ chấp nhận. Kháng cáo này của ông H1 là có căn cứ chấp nhận.
- Xét kháng cáo của bị đơn yêu cầu xác định thửa đất số 948, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại Ấp N, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 312696 do UBND huyện L, tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông Lê Trí H1 ngày 21/12/2015 là tài sản riêng của ông Lê Trí H1, thấy rằng: Bà Phan Thị Thúy A và ông Lê Trí H1 tổ chức đám cưới vào ngày 25 tháng 11 năm 2012 không có đăng ký kết hôn, đến ngày 23/02/2016 ông H1 và bà A đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận kết hôn số 10 ngày 23/02/2016. Theo quy định tại khoản 13 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thời điểm xác định quan hệ vợ chồng giữa bà Thúy A và ông H1 là ngày 23/02/2016. Thửa đất số 948 được chuyển nhượng ngày 20/10/2015 giữa Công ty Cổ phần Thương mại - Du lịch tỉnh D1 với ông Lê Trí H1 (bút lục 87-89), ông H1 được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/12/2015 (bút lục 83-84). Như vậy tài sản là thửa đất số 948 là tài sản phát sinh trước thời kỳ hôn nhân và do ông Lê Trí H1 đứng tên. Bà Phan Thị Thúy A cho rằng nguồn tiền chuyển nhượng đất từ tài sản chung của vợ chồng và tiền mượn của gia đình chồng nhưng không có chứng cứ chứng minh. Tại phiên tòa phúc thẩm bà Phan Thị Thúy A trình bày: Khi chuyển nhượng thửa 948 trên đất đã có 01 căn nhà và sau đó thì có sửa chữa lại, quá trình sử dụng thửa đất này thì bà có yêu cầu ông H1 sang tên để hai vợ chồng đứng tên nhưng ông H1 không đồng ý nên bà cũng không có ý kiến và cũng không khiếu nại sự việc trên đến cơ quan có thẩm quyền. Đồng thời ông H1 không trực tiếp ký vào Hợp đồng thế chấp với Ngân hàng N4 mà ủy quyền có thời hạn cho bà A đứng vay tiền với Ngân hàng. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 23 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 “Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung”. Tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính Phủ quy định: Việc nhập tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sản khác có giá trị lớn thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng vào tài sản chung của vợ hoặc chồng. Đối với việc thế chấp quyền sử dụng đất tài sản khác có giá trị lớn thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng vào tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình phải được lập thành văn bản, có chữ ký của cả vợ và chồng. Theo quy định tại Điều 46 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014“Việc nhập tài sản riêng của vợ chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng. Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải đảm bảo hình thức đó”. Theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 95 Luật Đất đai năm 2013, Điều 503 Bộ luật Dân sự quy định“ Việc nhập quyền sử dụng đất là tài sản riêng vào tài sản chung phải được công chứng và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký”. Như vậy, việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung phải có sự thỏa thuận giữa vợ, chồng bằng văn bản, đây là điều kiện bắt buộc, nhưng đối với trường hợp vụ án này bà A và ông H1 không có thỏa thuận nhập thửa đất số 948 vào tài sản chung và thực tế tại phiên tòa phúc thẩm bà A trình bày: Sau khi kết hôn thì bà A có yêu cầu ông H1 đưa tên bà A cùng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông H1 không đồng ý, điều này chứng minh ý chí ông H1 không đồng ý nhập tài sản riêng này vào tài sản chung của vợ chồng, do vậy Bản sơ thẩm nhận định thửa 948 là tài sản riêng của ông H1 là có căn cứ. Do phát sinh chứng cứ mới tại phiên tòa phúc thẩm nên có căn cứ xác định thửa 948 là tài sản riêng của ông H1. Tại phiên toa phúc thẩm, ông H1 có ý kiến ông đồng ý nhận thửa đất trên nhưng nếu bà A có nhu cầu ông đồng ý giao cho bà A và bà A có trách nhiệm thối trả lại tiền cho ông theo giá của Công ty Cổ phần T4 đã định giá. Do thửa đất này hiện bà A đang quản lý sử dụng và bà A có nhu cầu tiếp tục sử dụng thửa đất này và ông H1 đồng ý giao cho bà A nên bà A có trách nhiệm hoàn trả lại tiền cho ông theo giá của Công ty Cổ phần T4. Căn cứ vào kết quả thẩm định giá của Công ty Cổ phần T4 thửa 948 trị giá 694.000.000đ, thửa đất này hiện do chị A đang quản lý sử dụng nên giao cho bà A được nhận hiện vật là toàn bộ thửa đất 948 nêu trên và bà A có trách nhiệm hoàn trả giá trị thửa đất này là 694.000.000đ cho ông H1. Kháng cáo này của ông H1 đối với thửa đất số 948 có căn cứ chấp nhận.
- Đối với kháng cáo của ông H1 yêu cầu xác định số tiền còn lại từ việc bán thửa đất số 75 và nhà nghỉ: ông đang giữ 300.000.000đ, bà Thúy A đang giữ 1.280.000.000đ, từ đó ông đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thúy A đòi anh H1 hoàn trả số tiền 500.000.000đ. Xét thấy,
- Các bên đương sự đều thống nhất nguồn tiền này là do ông H1 và bà Thúy A chuyển nhượng tài sản cho ông Nguyễn Văn C và bà Huỳnh Thị N2 vào năm 2022, phần nhà và đất thuộc thửa 75, tờ bản đồ số 36, tọa lạc tại khóm E, phường C, thành phố S theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 054176 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh S cấp ngày 22/01/2020 cho ông Lê Trí H1 và bà Phan Thị Thúy A. Giá chuyển nhượng là 4.500.000.000 đồng.
- Bị đơn ông H1 cũng thừa nhận số tiền sau khi bán nhà nghỉ thì ông quản lý. Nhưng sau đó ông đã chuyển khoản cho bà Thúy A tổng cộng 2.900.000.000 đồng để bà Thúy A trả các khoản nợ chung như nợ Ngân hàng B1: 1.530.000.000 đồng; tiền cò nhà nghỉ 90.000.000 đồng. Còn lại thì ông đã chia cho bà Thúy A với số tiền 1.280.000.000 (Một tỷ, hai trăm tám mươi triệu) đồng. Việc bà Thúy A trình bày cho rằng số tiền 1.280.000.000 đồng, bà Thúy A dùng để trả nợ mẹ vợ 90.000.000 đồng, trả nợ Ngân hàng N4 (A1) với số tiền 800.000.000 đồng, tiền cọc nhà nghỉ 100.000.000 đồng. Trả tiền xăng dầu 290.000.000 đồng. Số tiền 1.280.000.000 đồng là nợ chung của vợ chồng là không đúng, vì khi ly hôn trong quyết định ghi nhận hai bên không có nợ chung. Do đó việc bà Thúy A đòi ông chia thêm 500.000.000 đồng, ông không đồng ý.
- Xét thấy: Nguồn gốc của số tiền mà nguyên đơn yêu cầu chia là do ông H1 và bà Thúy A bán tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân mà có. Do đó cấp sơ thẩm căn cứ tại khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình thì số tiền này sẽ được xem xét chia đôi là có căn cứ.
- Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bà Thúy A trình bày: Ban đầu khi ông H1 ký ủy quyền cho bà vay tiền ngân hàng là lúc đó chỉ vay số tiền 350.000.000 đồng, sau này bà tiếp tục vay đến 800.000.000đ bà có nói cho ông Hiểu biết nhưng ông H1 không thừa nhận, ông H1 trình bày chỉ biết số tiền vay ban đầu là 350.000.000 đồng. Bà A cho rằng số tiền vay Ngân hàng Nông Nghiệp 800.000.000 đồng bà sử dụng vào việc mua nhà nghỉ, mua dầu, mua bán lúa gạo. Tuy nhiên, việc mua nhà nghỉ là năm 2020 trong khi bà A vay tiền năm 2019, căn cứ vào các sao kê do bà A cung cấp thì năm 2019 ông H1 có nhiều lần chuyển tiền mua dầu vào tài khoản của bà A và riêng năm 2022 ông H1 đã chuyển 3.122.670.000 đồng vào tài khoản của bà A trong đó có nhiều lần ông H1 chuyển khoản cho bà A với nội dung “Chuyển khoản cho vợ mua dầu” và “ Chuyển khoản đặt trước tiền dầu” và trong tài khoản cũng có nhiều khách hàng chuyển trả tiền dầu, các khoản tiền hụi..., đồng thời trong số tiền bán nhà nghỉ thì bà A là người đang giữ số tiền cọc 100.000.000 đồng. Tại tòa bà A trình bày: Bà chấp nhận số tiền trả cho mẹ ông H1 là 600.000.000 đồng chứ không phải 700.000.000 đồng nên số tiền còn lại ông H1 đang giữ là 1.000.000.000 đồng nên bà mới yêu cầu ông H1 chia cho bà số tiền 500.000.000 đồng.
- Tại Tòa phúc thẩm ông H1 thống nhất các số tiền nợ chung ông và bà A đã trả gồm: nợ Ngân hàng B1: 1.530.000.000 đồng; tiền cò nhà nghỉ 90.000.000 đồng, trả tiền cho mẹ ruột bà A 90.000.000 đồng đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ngoài ra, ông H1 còn trình bày ngoài số tiền trên thì ông còn chuyển cho bà A nhiều lần khác theo yêu cầu của bà A nên hiện ông chỉ còn giữ số tiền 300.000.000 đồng. Lời trình bày này phù hợp với bảng sao kê mà bà A cung cấp trong đó thể hiện năm 2022 ông H1 đã chuyển cho bà A tổng cộng là 3.122.670.000 đồng. Do vậy, có căn cứ xác định hiện nay số tiền bán nhà nghỉ còn lại 300.000.000 đồng, đây là tài sản chung của ông H1, bà A. Nên yêu cầu của bà A yêu cầu chia đôi số tiền bán nhà nghỉ là có căn cứ chấp nhận một phần. Kháng cáo của ông H1 là có căn cứ chấp nhận một phần.
- Từ cơ sở mục [4], [5] kháng cáo của ông Lê Trí H1 yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận một phần. Cụ thể:
- Xác định thửa đất 948 nêu trên là tài sản riêng của ông Lê Trí H1 (trị giá 694.000.000đồng)
- Xác định tài sản chung của vợ chồng phải phân chia gồm: tổng trị giá 1.031.964.190 đồng, trong đó:
- Xác định giá trị phần tài sản chung được chia cho vợ chồng:
- Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.
- Về chi phí tố tụng giai đoạn sơ thẩm: Số tiền 18.558.084 đồng. Bà Phan Thị Thúy A và ông Lê Trí H1 mỗi bên phải chịu 9.279.042 đồng. Do bà Thúy A đã tạm ứng trước ông H1 có trách nhiệm hoàn trả cho bà Thúy A số tiền 9.279.042 đồng.
- Về án phí sơ thẩm: Do bản án sơ thẩm bị sửa nên án phí cũng được sửa cũng là phù hợp. Cụ thể. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm b, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Thửa đất số 988 trị giá 128.000.000 đồng
Tài sản trên thửa đất số 948, thửa 988: gồm căn nhà, các công trình xây dựng trên đất, cây trồng trên đất, máy móc thiết bị: Tổng trị giá 603.964.190 đồng
Số tiền 300.000.000 đồng
- Tổng giá trị tài sản chung được phân chia 1.031.964.190 đồng.
- Giá trị phần mỗi bên được chia 1.031.964.190 đồng: 2 = 515.982.095 đồng.
Chia hiện vật và thanh toán chênh lệch: Do ông Lê Trí H1 đang giữ số tiền 300.000.000 đồng nên ông H1 có trách nhiệm thanh toán chênh lệch cho bà Phan Thị Thúy A 150.000.000 đồng.
Do bà A được nhận thửa đất số 948 là tài sản riêng của ông Lê Trí H1, Toàn bộ thửa đất 988, nhà xây dựng trên hai thửa đất số 948, 988, các tài sản trên đất, cây trồng trên đất, máy móc thiết bị nên bà A có trách nhiệm thanh toán giá trị các tài sản trên cho ông Lê Trí H1 gồm:
694.000.000 đồng là giá trị thửa đất số 948 + 365.982.095 đồng (là 50% giá trị tài sản chung – 150.000.000 đồng) = 1.059.982.095 đồng.
Chi phí thẩm định giá giai đoạn phúc thẩm 10.990.000 đồng ông Lê Trí H1 phải chịu 5.495.000 đồng, bà Phan Thị Thúy A phải chịu 5.495.000 đồng. Do số tiền này ông H1 đã nộp tạm ứng trước nên ông Lê Trí H1 đã nộp xong chi phí thẩm định giá giai đoạn phúc thẩm, bà Phan Thị Thúy A có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Lê Trí H1 số tiền 5.495.000 đồng
Bà Phan Thị Thúy A phải chịu án phí trên tổng số tiền buộc phải trả là 1.209.982.095 đồng là 48.299.463 đồng.
Ông Lê Trí H1 phải chịu án phí chia tài sản chung là 25.799.105 đồng.
Về án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: ông Lê Trí H1 không phải chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309, khoản 2 Điều 148 và khoản 6 Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Lê Trí H1
- Sửa một phần Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 63/2024/HNGĐ-ST ngày 05/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng như sau:
- Xác định tài sản chung của bà Phan Thị Thúy A và ông Lê Trí H1 gồm: Thửa đất số 988, tờ bản đồ số 02, diện tích theo đo đạc thực tế là 97,5m², đất tọa lạc tại Ấp N, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số CI 329218, số vào sổ CS 01201 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho ông Lê Trí H1 và bà Phan Thị Thúy A (giá trị 128.000.000 đồng); Tài sản trên thửa đất số 948, thửa 988: gồm căn nhà (giá trị tài sản 244.906.312 đồng), các công trình xây dựng trên đất (giá trị 271.941.418 đồng), các cây trồng trên đất (giá trị tài sản 13.116.000đồng), máy móc thiết bị (giá trị tài sản 74.000.000 đồng); Số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng).
- Chia tài sản và thanh toán chênh lệch:
- Giao cho bà Phan Thị Thúy A được quyền quản lý, sử dụng phần đất (giá trị tài sản 694.000.000 đồng) và được quyền sở hữu các tài sản trên đất (giá trị 597.451.730 đồng) thuộc thửa 948, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại Ấp N, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 312696 do UBND huyện L, tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông Lê Trí H1 ngày 21/12/2015, có diện tích, có tứ cận như sau:
- + H: Giáp kênh thủy lợi có số đo 12,4m.
- + Hướng T: Giáp sông S có số đo 12,6m.
- + Hướng Nam: Giáp thửa 988 do ông Lê Trí H1 và bà Phan Thị Thúy A quản lý, sử dụng có số đo 41,97m.
- + Hướng B: Giáp kênh thủy lợi có số đo 42,5m.
- Giao cho bà Phan Thị Thúy A được nhận quyền quản lý, sử dụng phần đất (giá trị 128.000.000 đồng) và quyền sở hữu đối với các tài sản trên đất ( giá trị tài sản 6.512.460 đồng) thuộc thửa 988, tờ bản đồ số 02, diện tích theo đo đạc thực tế là 97,5m², đất tọa lạc tại Ấp N, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số CI 329218, số vào sổ CS 01201 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho ông Lê Trí H1 và bà Phan Thị Thúy A có diện tích, có tứ cận như sau:
- + H: Giáp kênh thủy lợi có số đo 1,1m và giáp phần đất do bà Lâm Thị N3 (vợ ông Trần Văn D) quản lý, sử dụng có số đo 2,4m.
- + Hướng T: Giáp sông S có số đo 3,5m.
- + Hướng Nam: giáp phần đất do bà Lâm Thị N3 (vợ ông Trần Văn D) quản lý, sử dụng có số đo 20,1m và ông Lê Văn P (chồng bà Lê Thị T1) đang quản lý, sử dụng có số đo 9,4m + 12, 2m.
- + Hướng B: Giáp thửa đất 948 do ông Lê Trí H1 quản lý, sử dụng có số đo 41,97m.
- + 01 bờ tường lợp bằng tol có số đo ngang 3,4m, dài 7,15m, cao 2,25m.
- + 01 cột bê tông: 0,15m x 0,15m x 1,3m.
- + 01 bờ tường lợp bằng tol có số đo dài 5,85m (đo từ cột bê tông). Ngoài ra trên phần đất còn có 01 phần căn nhà cấp 4.
- Về chi phí tố tụng giai đoạn sơ thẩm: Số tiền 18.558.084 đồng (Mười tám triệu, năm trăm năm mươi tám ngàn, không trăm tám mươi bốn đồng). Bà Phan Thị Thúy A và ông Lê Trí H1 mỗi bên phải chịu 9.279.042 đồng (Chín triệu, hai trăm bảy mươi chín ngàn, không trăm bốn mươi hai đồng). Do bà Thúy A đã tạm ứng trước ông H1 có trách nhiệm hoàn trả cho bà Thúy A số tiền 9.279.042 đồng (Chín triệu, hai trăm bảy mươi chín ngàn, không trăm bốn mươi hai đồng). Bà Phan Thị Thúy A đã thực hiện xong chi phí này.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về án phí phúc thẩm: Ông Lê Trí H1 không phải chịu và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) ông H1 đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006664 ngày 18-9-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 147; Điều 157, Điều 165; Điều 244; Điều 271, khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Căn cứ vào Điều 33; 59; 62; 64 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Xác định thửa đất số 948 tờ bản đồ số 02, diện tích theo đo đạc thực tế 528,2m² tọa lạc tại Ấp N, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 312696 do UBND huyện L, tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông Lê Trí H1 ngày 21/12/2015 là tài sản riêng của ông Lê Trí H1.
Không chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị Thúy A về việc chia tài sản chung đối với thửa đất số 948 tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại Ấp N, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 312696 do UBND huyện L, tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông Lê Trí H1
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu chia các tài sản là tài sản chung của bà Phan Thị Thúy A và ông Lê Trí H1 như sau:
Diện tích: 528,2m².
Trên phần đất có căn nhà cấp 4 có diện tích ngang (4,95m x 13,15m)+ (7,9m x 5,3m), kết cấu khung cột bê tông cốt thép, vách tường, mái tol, nền gạch men, có trần, cửa nhôm, tường ốp gạch men.
Dãy nhà trọ: Có diện tích (4,05m x 17,6m) + (4,1m x 6m); kết cấu: Khung cột bê tông cốt thép.
Mái che 01: có diện tích (1,3m x 17,6m) + (3,4m x 13,7m) + (12,6m x 4,3m) + (4,6m x 1,1m); kết cấu: mái tol, kết cấu đỡ bằng thép, nền láng xi măng.
Mái che 02: có diện tích 3,9m x 7,9m; kết cấu mái tol, kết cấu đỡ bằng thép, nền gạch men.
Ngoài ra còn có hồ nước có diện tích ( 4,4m x 1,7m x0,65m) + ( 1,9m x 1,9m x 0,65m) + (1,7m x 1,7m x 1,6m), xây tường 10, có tô.
Ngoài ra còn có công trình khác như: Sàn gỗ có diện tích 2,8m x 16m; 01 bồn chứa xăng dầu có diện tích 15 khối, 02 trụ bơm xăng dầu và 01 vách tường lửng dài 11,8m, cao 0,6m; 01 bờ tường xây gạch có số đo ngang 2,9m, dài 4,17m.
Các cây trồng trên đất gồm: Chuối: A: 01 cây; B: 09 cây; Dừa A; 04 cây; Dừa B: 04 cây; Dừa loại C: 04 cây. Cây mít B: 01 cây; cây mận A: 01 cây; cây Bơ A: 01 cây; Cây sơ ri A: 01 cây. Cây cau A: 01 cây. Cây xoài A: 01 cây; cây mãng cầu A: 01 cây.
Diện tích: 97,5m².
Hiện trạng trên đất gồm có: giá trị tài sản
Có các cây trồng: Cây sa kê loại A: 01 cây; Dừa loại B: 01 cây; loại C: 01 cây; cây mít loại C: 01 cây; cây chuối loại A: 01 cây, loại B: 05 cây.
Bà Phan Thị Thúy A có nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và làm thủ tục kinh doanh theo quy định.
Do các tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa 948, 988 và các tài sản trên hai thửa đất nêu trên hiện đang do bà Phan Thị Thúy A quản lý, sử dụng và các tài sản nay được giao cho bà Phan Thị Thúy A quản lý, sử dụng và sở hữu nên bà Phan Thị Thúy A có nghĩa vụ thanh toán giá trị tài sản riêng là giá trị quyền sử dụng đất thửa 948 nêu trên là 694.000.000 đồng (sáu trăm chín mươi bốn triệu đồng) và giá trị 50% tài sản chung là 365.982.095 đồng (ba trăm sáu mươi lăm triệu chín trăm tám mươi hai ngàn không trăm chín mươi lăm đồng) cho ông Lê Trí H1, tổng cộng: là 1.059.982.095 đồng (một tỷ không trăm năm mươi chín triệu chín trăm tám mươi hai ngàn không trăm chín mươi lăm đồng).
- Ông Lê Trí H1 đang quản lý số tiền 300.000.0000 đồng (ba trăm triệu đồng) là tài sản chung giữa bà Phan Thị Thúy A và ông Lê Trí H1, số tiền này ông H1 được chia 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), bà Phan Thị Thúy A được chia 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) nên ông Lê Trí H1 có trách nhiệm hoàn trả cho bà Phan Thị Thúy A số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không trả đủ số tiền nêu trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm thi hành án.
Về chi phí thẩm định giá giai đoạn phúc thẩm: 10.990.000 đồng (mười triệu chín trăm chín mươi ngàn đồng): Ông Lê Trí H1 phải chịu 5.495.000 đồng (năm triệu bốn trăm chín mươi lăm ngàn đồng), bà Phan Thị Thúy A phải chịu 5.495.000 đồng (năm triệu bốn trăm chín mươi lăm ngàn đồng). Do số tiền này ông H1 đã nộp tạm ứng trước nên ông Lê Trí H1 đã nộp xong chi phí thẩm định giá giai đoạn phúc thẩm, bà Phan Thị Thúy A có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Lê Trí H1 số tiền 5.495.000 đồng (năm triệu bốn trăm chín mươi lăm ngàn đồng)
Bà Phan Thị Thúy A phải chịu án phí là 48.299.463 đồng (bốn mươi tám triệu hai trăm chín mươi chín ngàn bốn trăm sáu mươi ba đồng). Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 28.500.000 đồng (hai mươi tám triệu năm trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0000604 ngày 08/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà Phan Thị Thúy A còn phải nộp thêm 19.799.463 đồng (Mười chín triệu bảy trăm chín mươi chín ngàn bốn trăm sáu mươi ba đồng).
Ông Lê Trí H1 phải chịu 25.799.105 đồng (hai mươi lăm triệu bảy trăm chín mươi chín ngàn một trăm lẻ năm đồng)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tăng Thị Thúy Nga |
Bản án số 06/2025/HNGĐ-PT ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về chia tài sản sau ly hôn
- Số bản án: 06/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Chia tài sản sau ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thị Thúy A - Lê Văn H
