|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 06/2025/HNGĐ - ST Ngày: 24-3-2025 V/v "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tấn Ảnh
- Ông Nguyễn Văn Sanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt – Thư ký Tòa án của TAND quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hiếu– Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 169/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 169/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Diệu H – sinh năm 1985.
- Địa chỉ: Số B P, phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
- * Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S – Sinh năm 1979.
- Địa chỉ HKTT: Số B P, phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ liên hệ: Số F M, quận S, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/7/2024 và bản tự khai ngày 30/10/2024 nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diệu H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông Nguyễn Văn S kết hôn vào ngày 21/4/2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy Ban nhân dân phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau, có tổ chức đám cưới. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại 2 P, phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống, vợ chồng mâu thuẫn, sống không hạnh phúc. Nguyên nhân do ông S không tôn trọng bà H và gia đình bà H, thường say xỉn gây gỗ với gia đình, hàng xóm, đánh đập con cái vô cớ, hôn nhân không hạnh phúc. Hiện nay bà H và ông S đã sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc nhau trong cuộc sống. Bà H xác định không còn tình cảm yêu thương ông S nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Văn S.
- Về quan hệ con chung: Bà H xác định có 02 con chung là Nguyễn Thị Hồng H1. Sinh ngày: 25/8/2004 và Nguyễn Thị Hạnh N. Sinh ngày: 11/3/2012. Ly hôn, nguyện vọng của bà H là được trực tiếp nuôi con Nguyễn Thị Hạnh N. Sinh ngày: 11/3/2012 cho đến khi con đủ 18 tuổi và yêu cầu ông S phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ cho đến khi con đủ 18 tuổi. Đối với con Nguyễn Thị Hồng H1. Sinh ngày: 25/8/2004 đã trưởng thành và phát triển bình thường nên bà H không có ý kiến yêu cầu gì.
- Về tài sản chung: Bà H xác định không có.
- Về nợ chung: Bà H xác định không có.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn S đã được Tòa án đã triệu tập nhiều lần để tiến hành hòa giải và tham gia tố tụng tại phiên tòa, tuy nhiên ông S vẫn vắng mặt không có lý do. Đồng thời không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không có ý kiến lưu tại hồ sơ vụ án.
Kết quả xác minh ngày 10/01/2025 tại chính quyền địa phương nơi bà H, ông S cư trú xác định được quá trình chung sống bà H, ông S có phát sinh mâu thuẫn, cải nhau nhiều lần và hiện nay bà H và ông S1 đã sống ly thân.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Tại phiên tòa bị đơn – ông Nguyễn Văn S vắng mặt lần thứ hai không có lý do; nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diệu H có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt nên đề nghị HĐXX căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vắng mặt các đương sự. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình và phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Nguyễn Văn S là có cơ sở, đề nghị Hội đồng căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83, 110 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quan điểm phát biểu của Vị đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diệu H đối với bị đơn ông Nguyễn Văn S có địa chỉ cư trú tại quận H, thành phố Đà Nẵng là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Hải Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Tòa án nhân dân quận Hải Châu đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để các đương sự tham gia tố tụng tại phiên toà nhưng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diệu H có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Văn S vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 227 của BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Bà Nguyễn Thị Diệu H kết hôn với ông Nguyễn Văn S vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy Ban nhân dân phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng theo giấy chứng nhận kết hôn số 42 ngày 21/4/2004. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình giải quyết vụ án, bà H xác định mâu thuẫn giữa bà H và ông S đã trầm trọng, bà H không còn tình cảm yêu thương ông S nên yêu cầu Toà án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông Nguyễn Văn S. Bị đơn ông Nguyễn Văn S không tham gia tố tụng theo triệu tập của Toà án và không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà H thì thấy: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành hoà giải về quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông S nhiều lần nhưng ông S không đến Tòa án để giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy, hạnh phúc gia đình chỉ thật sự có được dựa trên sự yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, thế nhưng bà H, ông S không làm được điều này. Khi xảy ra mâu thuẫn ông S và bà H không sống chung với nhau, Tòa án tiến hành mời hòa giải để giải quyết hàn gắn hôn nhân nhưng ông S không đến, có ý thức bỏ mặc cuộc hôn nhân; kết quả xác minh tại địa phương cũng xác định được bà H và ông S có mâu thuẫn, cãi nhau điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà H, ông S đã mâu thuẫn kéo dài và trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H là phù hợp với Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Bà H và ông S có 02 con chung tên là Nguyễn Thị Hồng H1. Sinh ngày: 25/8/2004 và Nguyễn Thị Hạnh N. Sinh ngày: 11/3/2012. Ly hôn, nguyện vọng của bà H là được trực tiếp nuôi con Nguyễn Thị Hạnh N. Sinh ngày: 11/3/2012 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Đối với con Nguyễn Thị Hồng H1. Sinh ngày: 25/8/2004 đã trưởng thành và phát triển bình thường nên bà H không có ý kiến yêu cầu gì. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Nguyễn Thị Hạnh N là con gái cần có sự quan tâm chăm sóc trực tiếp của người mẹ mới đảm bảo sự phát triển tốt cho con và cháu N cũng đang sống chung với bà H và có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Do đó, HĐXX nhận thấy cần giao con chung Nguyễn Thị Hạnh N. Sinh ngày: 11/3/2012 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là cần thiết và phù hợp với các quy định của pháp luật. Đối với con Nguyễn Thị Hồng H1. Sinh ngày: 25/8/2004 đã đủ 18 tuổi và phát triển bình thường và bà H không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nguyên đơn bà H yêu cầu bị đơn ông S cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ cho đến khi con đủ 18 tuổi. HĐXX căn cứ Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về việc “...Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên...” và xác định mức cấp dưỡng nuôi con mà bà H yêu cầu 2.000.000đ/ tháng là phù hợp nên cần buộc ông S phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Thị Hạnh N. Sinh ngày: 11/3/2012 cho bà Nguyễn Thị Diệu H mỗi tháng 2.000.000đ kể từ tháng 3/2025 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
[2.3] Về tài sản chung: Bà H xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông S không có ý kiến trình bày về vấn đề này nên HĐXX không đề cập giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Bà H xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông S không có ý kiến trình bày về vấn đề này nên HĐXX không đề cập giải quyết.
[3] Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn S đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia tố tụng tại Toà án nhưng ông S không thực hiện nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc không tuân thủ quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
[4] Đối với ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng thấy phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
[5] Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ bà H phải chịu theo quy định của pháp luật; án phí về cấp dưỡng nuôi con định kỳ 300.000đ ông S phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, 35, 39, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 110 Luật hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Diệu H về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” đối với ông Nguyễn Văn S.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Diệu H được ly hôn với ông Nguyễn Văn S.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Hạnh N. Sinh ngày: 11/3/2012 cho bà Nguyễn Thị Diệu H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Ông Nguyễn Văn S phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Thị Hạnh N. Sinh ngày: 11/3/2012 cho bà Nguyễn Thị Diệu H mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng) kể từ tháng 3/2025 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Sau ly hôn, quyền và nghĩa vụ đối với con chung các bên thực hiện theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 luật Hôn nhân và gia đình.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.
- Về tài sản chung: Không đề cập giải quyết.
- Về nợ chung: Không đề cập giải quyết.
- Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà Nguyễn Thị Diệu H phải chịu, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà H đã nộp theo biên lai thu số 0004471 ngày 24/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Bà H đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Án phí về cấp dưỡng nuôi con định kỳ 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) ông Nguyễn Văn S phải chịu.
- Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết tại nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Mỹ Dung |
Bản án số 06/2025/HNGĐ - ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 06/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Diệu H xin ly hôn với ông Nguyễn Văn S
