|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHONG ĐIỀN THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 06/2025/HS-ST Ngày 18-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Lương.
- Bà Hồ Thị Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Nhi, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phong Điền, thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phong Điền, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tường, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân thị xã Phong Điền, thành phố H mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
N, sinh ngày 26/3/1990, tại tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); nơi đăng ký thường trú và nơi sinh sống: Tổ dân phố H, phường P, thị xã P, thành phố H; số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: Đánh cá; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn H (đã chết) và bà Phan Thị D, sinh năm: 1954; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 07/11/2024 đến nay; có mặt.
- Người làm chứng:
- + Anh Trần Ngọc L, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện Q, thành phố H; vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường P, thị xã P, thành phố H; có mặt.
- + Chị Mai Thị H1, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường P, thị xã P, thành phố H; có mặt.
- + Chị Đỗ Thị Mỹ L1, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường P, thị xã P, thành phố H; vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường P, thị xã P, thành phố H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 00 sáng ngày 01/12/2019, ông Nguyễn H (sinh năm 1955, trú tại tổ dân phố H, phường P, thị xã P, thành phố H - đã chết) nhặt được 08 (tám) gói ni lông màu xanh (trôi dạt vào bờ biển tổ dân phố H), nghi là ma túy nên đã điện báo cho Đồn Biên phòng P2 đến kiểm tra. Đến khoảng 11 giờ 00 cùng ngày, Nguyễn Phước Đ làm về, thấy bố của mình là ông Nguyễn H đang cùng cán bộ, chiến sỹ thuộc Đồn Biên phòng P2 đang kiểm tra các túi ni long do ông H nhặt được nên P cũng đến giúp mở các túi ra. Do nghi là ma túy nên cán bộ P2 đi ra ngoài điện thoại báo cáo lãnh đạo, lợi dụng sơ hở này, Nguyễn Phước L2 một cái ly nhựa (loại thường dùng để uống nước mía) lén lút xúc trộm tinh thể rắn, màu trắng trong gói ni long màu xanh đã mở sẵn rồi đưa vào nhà cất giấu. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, P chia số ma túy xúc trộm được làm 03 gói nhỏ rồi đưa về chôn dưới chân tường rào trạm ra đa sát với hồ tôm của anh Nguyễn Văn H2 (tổ dân phố H, phường P) là nơi P đang làm thuê để cất giữ nhằm mục đích có ai mua thì bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân, riêng cái ly nhựa Phước bỏ lại ở phòng ngủ tại nhà của mình.
Đến ngày 07/12/2019, Trần Ngọc L (sinh năm 1980, trú tại thôn T, xã Q, huyện Q, thành phố H) điện thoại cho Nguyễn P để hỏi mua thì P đồng ý bán với giá 15.000.000 đồng, khoảng 15 giờ 00, ngày 10/12/2019, Nguyễn Phước L2 03 gói ma túy bỏ vào trong một cái hộp giấy carton, sau đó lấy băng keo quấn chặt lại, đến tối cùng ngày, P lấy ma túy rồi ra đứng đợi L trước cổng trạm ra đa. Đến khoảng 19 giờ ngày 10/12/2019, L đi từ Đà Nẵng ra ghé lấy ma túy (nhưng chưa đưa tiền) rồi chạy thẳng vào cầu C trên sông N, đoạn chảy qua phường V, quận T, thành phố H, tại đây L đã ném toàn bộ số ma túy mới mua được xuống sông để tưởng nhớ người cháu gọi L bằng chú ruột đã chết vì ma túy tại đoạn sông này.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở C tổ dân phố H, phường P, thị xã P, thành phố H, Cơ quan điều tra không phát hiện thu giữ tài liệu, đồ vật gì thêm.
Tại bản kết luận giám định 116/GĐ ngày 02/3/2020, Phòng K Công an tỉnh T (nay là Công an thành phố H) kết luận: tinh thể rắn, màu trắng thu giữ trên ly nhựa có tổng trọng lượng là 0,1165g (không phẩy một một sáu năm gam), là ma túy, loại Methamphetamine.
Sau khi bán ma túy cho Trần Ngọc L, ngày 17/12/2019, Nguyễn P đã đến Đồn Biên phòng P2 để tự thú, tại Cơ quan điều tra bị can đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã ra Quyết định tạm giữ, đối với:
- - 01 (một) ly nhựa trong suốt cao 13cm, đường kính trên 09cm, đường kính đáy ly 05cm.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Goly, số imei: 359814072082671, bên trong có 01 (một) sim điện thoại số 0336.479.xxx. Tất cả các vật chứng nêu trên đang được tạm giữ để bảo đảm cho việc truy tố, xét xử và thi hành án.
Tại Bản cáo trạng số: 07/CT-VKSPĐ ngày 13/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phong Điền, thành phố H quyết định truy tố Nguyễn P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Phước T1 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/11/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy 01 ly nhựa màu trắng đã qua sử dụng, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong kín bằng hộp giấy màu đỏ trên có 02 chữ ký của giám định viên Trần Nam, 01 chữ ký Trần Đình Trung H3, 04 dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh T và dòng chữ “Bao gói vụ Nguyễn P”.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu GOLY đã qua sử dụng, bên trong có gắn thẻ sim số 0336.479.316, số imei: 359814072082671, được niêm phong kín bằng bì thư Đồn Biên phòng P2, trên mép bì thư có 01 chữ ký Trần Đình Trung H3, 01 chữ ký Đồng Khắc L3, 01 chữ ký Nguyễn Văn H4, 01 chữ ký Nguyễn P và 02 dấu tròn đỏ của Đồn Biên phòng P2.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có lời bào chữa và ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát; tại lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được sai phạm, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 01/12/2019, lợi dụng sơ hở của cán bộ chiến sỹ Đồn Biên phòng P2 khi lập biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu do quần chúng nhân dân giao nộp, Nguyễn P đã có hành vi lén lút lấy 01 ly nhựa xúc trộm, chiếm đoạt một lượng ma túy đưa đi cất giấu nhằm mục đích bán cho người khác.
Khoảng 19 giờ 00 ngày 10/12/2019, trước cổng trạm ra đa tại tổ dân phố Đ, phường P, thành Phố H, Nguyễn P đã bán ma túy chiếm đoạt được cho Trần Ngọc L. Ngày 17/12/2019, Nguyễn P đã đến Đồn Biên phong P2 tự thú về hành vi chiếm đoạt và mua bán ma túy của mình.
Loại ma túy mà P đã chiếm đoạt còn sót lại trên ly nhựa P đã sử dụng để xúc trộm có kết luận giám định là loại ma túy Methamphetamine. Thời điểm thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Như vậy, hành vi của bị cáo phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức rõ tác hại của chất ma túy nhưng với thái độ coi thường pháp luật, muốn có tiền tiêu xài cho cá nhân, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt và bán ma túy cho người khác.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng đến an ninh trật tự và an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tình chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đến Đồn Biên phong P2 tự thú về hành vi của mình; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, cha của bị cáo là ông Nguyễn H được Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh T tặng Giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào giữ gìn an ninh trật tự ở khu vực biên giới, biển đảo và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P tặng Giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong thực hiện Phong trào toàn dân tham gia giữ gìn an ninh trật tự ở khu vực biên giới biển, đảo năm 2019 nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về quyết định hình phạt: Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo.
Xét các căn cứ quyết định hình phạt như đã phân tích, cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật Hình sự để quyết định mức hình phạt và buộc cách ly bị cáo với thời hạn tương xứng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự, xét thấy:
01 ly nhựa màu trắng đã qua sử dụng, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại di động hiệu GOLY đã qua sử dụng, bên trong có gắn thẻ sim số 0336.479.316, số imei: 359814072082671, đây là phương tiện bị cáo đã sử dụng để liên hệ thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[7] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Các vấn đề khác: Đối với Trần Ngọc L có hành vi mua ma túy đưa đến cầu C trên sông N để thực hiện nghi lễ tâm linh của gia đình nhưng do không xác định được khối lượng ma túy nên không xử lý về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” là có cơ sở.
[9] Đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước phạm T2 “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước 0 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/11/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 ly nhựa màu trắng đã qua sử dụng, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong kín bằng hộp giấy màu đỏ trên có 02 chữ ký của giám định viên Trần Nam, 01 chữ ký Trần Đình Trung H3, 04 dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh T và dòng chữ “Bao gói vụ Nguyễn P”.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu GOLY đã qua sử dụng, bên trong có gắn thẻ sim số 0336.479.316, số imei: 359814072082671, được niêm phong kín bằng bì thư Đồn Biên phòng P2, trên mép bì thư có 01 chữ ký Trần Đình Trung H3, 01 chữ ký Đồng Khắc L3, 01 chữ ký Nguyễn Văn H4, 01 chữ ký Nguyễn P và 02 dấu tròn đỏ của Đồn Biên phòng P2.
(Các vật chứng trên có đặc điểm như mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phong Điền, thành phố H).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Buộc bị cáo Nguyễn Phước P1 chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm hình sự.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Minh |
Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ HUẾ về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 06/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Nguyễn Phước
