|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
----------------
Bản án số: 06/2025/HNGD-PT
Ngày: 17-03-2025
“Tranh chấp ly hôn.”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mến
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Lực
Ông Nguyễn Văn Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Duy Quyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 27/2024/TLPT-HN ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 93/2024/HN-ST ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 33/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự
- Nguyên đơn: Ông Trần Hoàng Đ, sinh năm 1962.
Địa chỉ: ấp C, xã V, huyện C tỉnh Trà Vinh (có mặt)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Như N, sinh năm 1963.
Địa chỉ: ấp C, xã V, huyện C tỉnh Trà Vinh (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Như N: Luật sư Nguyễn Vĩnh B – Trung tâm tư vấn pháp luật tỉnh T (có mặt)
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Như N là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình xét xử nguyên đơn ông Trần Hoàng Đ trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị Như N xác lập hôn nhân vào khoảng năm 1985 và có đăng ký kết hôn đăng ký vào ngày 18/6/2008 tại UBND xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Quá trình chung sống đến đầu năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm về lối sống, ứng xử giao tiếp và tình cảm, vợ chồng không có tiếng nói chung, mạnh ai nấy sống, bà N bỏ nhà đi chơi thường xuyên ông không hài lòng, mỗi lần góp ý thì bà N không nghe, không làm theo, từ đó ông thấy bà N không tôn trọng ông, hàng tuần bà N bỏ nhà đi chơi từ 01 đến 02 lần, sự việc tiếp diễn nhiều năm nhưng bà N không khắc phục, công việc gia đình mạnh ai nấy làm, không trao đổi bàn bạc gì với nhau, vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay, tình cảm không còn. Nay ông yêu cầu giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Như N.
- Về nuôi con tên: Trần Hoàng P, sinh năm 1989 (hiện đã thành niên), ông không đặt ra yêu cầu giải quyết.
- Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả: Ông không tranh chấp, không khởi kiện. Ngoài ra ông không có yêu cầu gì khác.
Tại các bản khai, trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Như N trình bày: Vào khoảng năm 1987 bà và ông Đ xác lập quan hệ hôn nhân đến ngày 18/6/2008 mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Vợ chồng chung sống đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm về lối sống, ứng xử giao tiếp và tình cảm, sống chung 01 nhà nhưng vợ chồng không có tiếng nói chung, không ai nghe lời ai, mạnh ai nấy sống, công việc mạnh ai tự nấy làm, không hỏi thăm, không góp ý, không quan tâm đến. Mặt khác ông Đ quen người phụ nữ khác, ít quan tâm đến bà, nên bà mới bỏ nhà đi chơi nhiều lần, từ năm 2017 vợ chồng đã sống ly thân, đến 01 năm 2022 ông Đ bỏ nhà đi về nhà mẹ ruột ông sống cho đến nay. Do vợ chồng không có tiếng nói chung nên bà không có kêu ông Đ trở về nhà chung sống, bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn thương yêu quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay bà không đồng ý ly hôn, lý do tuổi đã cao nếu ly hôn sẽ làm mất uy tín gia đình. Trường hợp ông Đ cương quyết ly hôn bà yêu cầu xét xử theo quy định pháp luật.
- Về nuôi con tên: Trần Hoàng P, sinh năm 1989 (hiện đã thành niên). Bà không đặt ra yêu cầu giải quyết.
- Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả: Bà không tranh chấp, không khởi kiện. Ngoài ra bà không có yêu cầu gì khác.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 93/2024/DS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh đã xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Trần Hoàng Đ; Về hôn nhân: Xử cho ông Trần Hoàng Đ được ly hôn với bà Nguyễn Thị Như N.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/8/2024 bị đơn bà Nguyễn Thị Như N kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm:
- Hủy bản án sơ thẩm số 93/2024/HNGD-ST ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Cho ông Trần Hoàng Đ ly hôn với bà N nhưng không giải quyết về tài sản.
- Trong quá trình giải quyết vụ kiện bà N có nộp đơn yêu cầu xem xét giải quyết chia tài sản chung giữa bà và ông Trần Hoàng Đ nhưng Tòa án huyện C không xem xét giải quyết trong cùng vụ án ly hôn này nên làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà N.
- Về tài sản bà N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Hoàng Đ chồng bà N giao căn nhà số G, ấp C, xã V, huyện C tỉnh Trà Vinh. Mà ông Đ đã hứa và 3 công đất ruộng ông Trần Hoàng Đ đứng tên tọa lạc ấp C, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Nhưng cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết là chưa giải quyết triệt để vụ án nói trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ kiện.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Như N trình bày quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đơn kháng cáo của bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật. Bởi vì trong quá trình xét xử sơ thẩm bị đơn có yêu cầu chia tài sản nhưng cấp sơ thẩm không xem xét về tài sản. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy án chuyển về giao tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang giải quyết lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử phúc thẩm. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Căn cứ theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như diễn biến và tranh tụng công khai tại phiên toà hôm nay. Xét thấy yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Như N yêu cầu hủy bản án sơ thẩm số 93/2024/HNGD-ST ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Cho ông Trần Hoàng Đ ly hôn với bà N nhưng không giải quyết về tài sản; Trong quá trình giải quyết vụ kiện bà N có nộp đơn yêu cầu xem xét giải quyết chia tài sản chung giữa bà và ông Trần Hoàng Đ nhưng Tòa án huyện C không xem xét giải quyết trong cùng vụ án ly hôn này nên làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà N; Về tài sản bà N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Hoàng Đ chồng bà N giao căn nhà số G, ấp C, xã V, huyện C tỉnh Trà Vinh. Mà ông Đ đã hứa và 3 công đất ruộng ông Trần Hoàng Đ đứng tên tọa lạc ấp C, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Nhưng cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết là chưa giải quyết triệt để vụ án nói trên là không có căn cứ chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 93/2024/DS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ của các đương sự và quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: sau khi xét xử sơ thẩm bị đơn bà Nguyễn Thị Như N kháng cáo, việc kháng cáo của đương sự còn trong hạn luật định nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm vì cho rằng bà có yêu cầu Tòa án sơ thẩm giải quyết yêu cầu chia tài sản chung là nhà và đất của vợ chồng bà nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa giải quyết làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà; Hội đồng xét xử nhận thấy: Nguyên đơn ông Trần Hoàng Đ khởi kiện chỉ yêu cầu xin ly hôn, không yêu cầu chia tài sản chung hay giải quyết các vấn đề khác trong vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm có tiến hành lấy lời khai của bà Nguyễn Thị Như N, ngày 08/7/2024 tại biên bản hòa giải, biên bản giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 28/6/2024 bà N khai không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung. Ngày 11/7/2024 Tòa án ra Quyết định xét xử vụ án vào ngày 24/7/2024 và ngày 26/7/2024 bà N làm đơn phản tố yêu cầu chia tài sản chung là căn nhà và 03 công đất ruộng tại ấp C, xã V, huyện C.
[3] Tại Khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định quyền yêu cầu phản tố của bị đơn thì “Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”. Trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên hòa giải và khi Tòa án Quyết định đưa vụ án ra xét xử thì bà N không đưa ra yêu cầu chia tài sản, đồng thời tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có hỏi về tài chung của vợ chồng có yêu cầu gì không nhưng bà N không yêu cầu.
Tại Khoản 6 Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn “Trường hợp yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án thì bị đơn có quyền khởi kiện vụ án khác”. Do đó, trong vụ việc này, bà N có quyền khởi kiện vụ án về chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn. Tòa án cấp sơ thẩm cho ông Trần Hoàng Đ ly hôn với bà Nguyễn Thị Như N, bởi lẽ trong quá trình giải quyết vụ án ông Đ và bà Như N thống nhất mâu thuẩn vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẩn, hai bên bỏ bê không quan tâm nhau từ năm 2017 đến nay vì vậy tình cảm vợ chồng không còn chăm sóc chung thủy với nhau. Theo Luật hôn nhân và gia đình vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu với nhau. Tuy nhiên mục đích hôn nhân giữa ông Đ và bà N không đạt được vì vậy cấp sơ thẩm cho ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật. Từ những nhận định và phân tích trên xét thấy yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Như N là không có căn cứ.
[4] Đề nghị của Kiểm sát viên xét xử phúc thẩm là phù hợp với quy định pháp luật cũng như nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Như N không phù hợp với quy định trên nên không được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Như N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, do bà Nguyễn Thị Như N là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Như N.
Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 93/2024/HN-ST ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh
Tuyên xử:
Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Trần Hoàng Đ; Về hôn nhân: Xử cho ông Trần Hoàng Đ được ly hôn với bà Nguyễn Thị Như N.
Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị Như N.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Mến |
Bản án số 06/2025/HNGD-PT ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 06/2025/HNGD-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
