Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 14-3-2025

V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quách Minh Nhiên và Nguyễn Thị Nhung

Thư ký phiên toà: Bà Khà Thị Yêu– Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: ông Lê Quí Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2024/TLST - HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/02/2025 và Quyết định hoãn phiên phiên toà số 05/QĐ-TA ngày 24/02/2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: anh Bạch Tiến H, sinh năm 1969. Địa chỉ: xóm B, xã T, huyện K, tỉnh Hòa Bình.

2. Bị đơn: chị Bạch Thị D, sinh năm 1976. Địa chỉ: xóm B, xã T, huyện K, tỉnh Hòa Bình.

(Hiện đang xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc).

(anh Bạch Tiến H có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Bạch Thị D vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn anh Bạch Tiến H trình bày:

Năm 1997 anh Bạch Tiến H và chị Bạch Thị D, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc.

Sau đó vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm sống, từ năm 2017 đến nay anh H và chị D đã sống ly thân, đến năm 2023 chị D đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, vợ chồng không còn quan tâm, không còn liên lạc với nhau, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng không thể hàn gắn được. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh H xin ly hôn chị D. Về con chung, vợ chồng có hai con chung là Bạch Sỹ H1, sinh ngày 06/9/1998 và Bạch Diệu H2, sinh ngày 27/02/2003 đã trưởng thành. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng không có không yêu cầu Toà án giải quyết, anh H tự nguyện nộp án phí ly hôn theo quy định.

Bị đơn chị Bạch Thị D không có mặt tại địa phương, không có địa chỉ cụ thể, Toà án đã tiến hành xác minh tại địa phương và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với chị Bạch Thị Diệu .

Tại biên bản xác minh ngày 07/01/2025 đối với ông Bạch Công P (anh trai ruột của chị D) cho biết: anh H và chị D kết hôn tại UBND xã T. Sau khi kết hôn chị D về sống cùng gia đình anh H tại xóm B, xã T, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Quá trình chung sống vợ chồng lúc đầu hạnh phúc về sau do làm ăn kinh tế bị thua lỗ, phải bán nhà và đất để trả nợ nên dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn và sống ly thân đến nay. Năm 2023 chị D đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, chị D có liên lạc với anh P qua Z nhưng không nói địa chỉ cụ thể ở bên Hàn Quốc anh P có hỏi nhưng chị D không nói.

Theo bản tự khai của cháu Bạch Diệu H2 (con gái ruột của anh H, chị D) cho biết: Về mâu thuẫn vợ chồng thì anh H và chị D đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay, không ai quan tâm ai, nay ly hôn cháu Bạch Diệu H2 không có ý kiến gì, về địa chỉ của chị D ở Hàn Quốc cháu H2 không nắm được.

Đại diện xóm B, xã T, huyện K, tỉnh Hòa Bình cho biết: năm 2023 chị D đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, về mâu thuẫn vợ chồng chính quyền địa phương chỉ biết anh H và chị D sống không hạnh phúc nên anh H có làm đơn ly hôn chị D.

Tại Công văn số 05/PA08 ngày 03/01/2025 của Phòng Q - Công an tỉnh H đã cung cấp thông tin: Chị Bạch Thị D đã được Cục Q1 - Bộ C cấp hộ chiếu số P01003886 ngày 21/01/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Bạch Thị D theo quy định của pháp luật tố tụng, tuy nhiên

chị D không có mặt tại địa phương, do vậy Toà án phải niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn chị Bạch Thị D vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt nhưng thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã tiến hành đầy đủ thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng và đưa vụ án ra xét xử đúng quy định.

- Về nội dung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy mâu thuẫn giữa anh H và chị D đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H được ly hôn chị D. Về con chung: Các con đã trưởng thành, không yêu cầu Toà án giải quyết. Về tài sản chung và công nợ chung: Không có.

- Về án phí: Anh Bạch Tiến H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1]. Anh Bạch Tiến H khởi kiện xin ly hôn chị Bạch Thị Diệu . Hiện chị D đang sinh sống tại Hàn Quốc. Căn cứ. Điều 28, Điều 37, Điều 39, Điều 464 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình.

[1.2]. Tại phiên tòa, anh H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; chị D đã được triệu tập hợp lệ, vắng mặt lần thứ hai. Căn cứ Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án mặc dù nguyên đơn anh H và bị đơn chị D đều vắng mặt.

[2] Về nội dung vụ án

[2.1]. Anh Bạch Tiến H và chị Bạch Thị Diệu kết H3 năm 1997, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K. Việc kết hôn là tự nguyện, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, từ năm 2017 đến nay vợ chồng đã sống ly thân, hiên chị D đang sinh sống và lao động tại Hàn Quốc, vợ chồng không còn quan tâm, không còn tình cảm. Như vậy mẫu thuẫn giữa anh H và chị D đã trầm trọng, mục đích, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không còn tồn tại. Căn cứ Điều 51; ĐIều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh H được ly hôn chị D.

[2.2]. Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Bạch Sỹ H1, sinh ngày 06/9/1998 và Bạch Diệu H2, sinh ngày 27/02/2003, đã trưởng thành Toà Toà không xem xét.

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng không có không yêu cầu Toà án giải quyết.

[3]. Về án phí: Anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 464 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân gia đình;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử:

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho anh Bạch Tiến H được ly hôn với chị Bạch Thị Diệu .

1.2. Về con chung: Đã trưởng thành.

1.3 Về tài sản chung và công nợ chung: Không xem xét giải quyết.

2. Về án phí: Anh Bạch Tiến H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án

phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004825 ngày 27/12/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình, anh H đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: anh Bạch Tiến H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Chị Bạch Thị D được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Hà Nội;
  • - VKSNDCC tại Hà Nội
  • - VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • - Cục THADS tỉnh Hòa Bình
  • - UBND xã Nam Thượng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu TH, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HNGĐ - ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH về ly hôn

  • Số bản án: 06/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger