Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỘ ĐỨC

TỈNH QUẢNG NGÃI

Bản án số: 06/2025/HS-ST

Ngày: 13-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Vương

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Đặng Văn Minh

+ Ông Huỳnh Văn Hiền

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nguyễn Trọng Thành, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Thiều Quang Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST-HS, ngày 27 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Võ Thanh M, tên gọi khác: không. Sinh ngày 03 tháng 02 năm 1980 tại Quảng Ngãi. Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
  2. SỐ CCCD: [...] cấp ngày 26/8/2022. Nơi cấp: Cục C1 về TTXH. Nghề nghiệp: Nông. Trình độ học vấn: 9/12. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông Võ T (chết) và bà Võ Thị C. Bị cáo có vợ tên Hồ Thị D (Đã ly hôn). Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2021

    Tiền án: 02

    - Ngày 05/08/2003, ông Võ Thanh M bị Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ (nay là thị xã Đ) tuyên phạt 06 (sáu) tháng tù và phạt bổ sung 3.000.000đ (ba triệu đồng) về tội Đánh bạc theo Bản án số 25/STHS, ông M đã chấp hành xong án phạt tù nhưng vẫn chưa chấp hành hình phạt bổ sung số tiền 3.000.000 đồng, tiền án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng và tiền án phí dân sự 135.000 đồng trong bản án.

    Ngày 13/11/2023, Võ Thanh M bị Tòa án nhân dân TX Đức Phổ tuyên phạt 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội Đánh bạc theo nội dung bản án số 48/2023/HSST. Tại bản án hình sự phúc thẩm số 48/2024/HSPT ngày 04/04/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tuyên phạt Võ Thanh M 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội Đánh bạc.

    Bị cáo Võ Thanh M có mặt tại phiên tòa.

  3. Nguyễn Văn M1, tên gọi khác: không. Sinh ngày 03 tháng 02 năm 1969 tại Quảng Ngãi. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
  4. SỐ CCCD: [...] cấp ngày 27/3/2023. Nơi cấp: Cục C1 về TTXH. Nghề nghiệp: Nông. Trình độ học vấn: 12/12. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Văn T1 (chết) và bà Nguyễn Thị H (chết). Bị cáo có vợ tên Huỳnh Thị Tuyết T2, sinh năm 1983. Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2011.

    Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo Nguyễn Văn M1 có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Phan Văn G, sinh năm 71 Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi (vắng mặt)
  • + Chị Ngô Thanh H1, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi (vắng mặt)
  • + Ông Phạm N, sinh năm 1971. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi (vắng mặt)
  • + Ông Đoàn Đình Đ, sinh năm 1987. Nơi thường trú: 36/3 tổ G, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
  • + Ông Lê Thanh T3, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt)
  • + Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt)
  • + Chị Trần Thị T4, sinh năm 1990. Nơi thường trú: Ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh. (vắng mặt)
  • + Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1963. Nơi cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt)
  • + Ông Huỳnh Trung D1, sinh năm 1970. Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 12/09/2024, Nguyễn Thị B (SN 1963 ở thôn V, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi) gọi điện thoại cho ông Huỳnh Trung D1 (sinh năm: 1970 ở thôn C, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi) để thỏa thuận về việc ông D1 cho phép bà B xóc bầu cua thắng thua bằng tiền tại quán C2 ở thôn C, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi do ông D1 làm chủ thì bà B sẽ đưa cho ông D1 số tiền 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng) sau khi xóc bầu cua xong thì ông D1 đồng ý. Sau khi thỏa thuận xong với ông D1, bà B liên hệ rủ Phan Văn G (sinh năm: 1971 ở thôn C, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi) đến quán C2 để nhằm mục đích đánh bạc trái phép thì Phan Văn G đồng ý. Sau đó, ông G điều khiển xe mô tô biển số 76U1-109.57 đi từ nhà mình đến nhà của bà B để chở bà B đến quán cà phê Kiều D2. Lúc đi, bà B mang theo một bộ dụng cụ xóc bầu cua gồm một thau kim loại, một dĩa kim loại, ba hột kê gà và một tờ giấy in các hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai để nhằm mục đích cầm xóc bầu cua cho những người khác tham gia cá cược tiền và số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) nhằm mục đích chung chi thắng thua trong quá trình xóc bầu cua.

Tại quán cà phê Kiều D2, bà B gặp một số người đang uống cà phê tại quán nên bà B rủ những người này đánh bạc trái phép dưới hình thức xóc bầu cua do bà B là người cầm xóc. Sau đó, bà B cầm xóc bầu cua cho khoảng 10 người tham gia đặt cược tiền. Đến khoảng 22 giờ 35 phút cùng ngày, khi bà B đang cầm xóc bầu cua để người chơi đặt cược, khi bà B chưa kịp mở ngửa thau kim loại để xem kết quả thắng thua thì Công an huyện M đến kiểm tra phát hiện có bà Nguyễn Thị B đang xóc bầu cua cho một số người khác tham gia đánh bạc. Tại thời điểm Công an huyện ập vào kiểm tra, có một người đàn ông (hiện chưa rõ nhân thân lai lịch) đánh bạc trái phép với bà B đã lợi dụng sở hở nên bỏ chạy trốn thoát được. Những người đánh bạc trái phép cùng với bà Nguyễn Thị B gồm:

  1. Phan Văn G sinh năm: 1971, thường trú tại thôn C, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
  2. Ngô Thanh H1, sinh năm: 1998, thường trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi;
  3. Phạm N, sinh năm 1971, thường trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi;
  4. Đoàn Minh Đ1, sinh năm: 1987; nơi đăng ký thường trú tại số C, tổ G, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, nơi ở hiện tại thôn Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi;
  5. Lê Thanh T3, sinh năm: 1985, thường trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi;
  6. Võ Thanh M, sinh năm: 1980, thường trú tại TDP A, phường P, TX. Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
  7. Nguyễn Văn M1, sinh năm: 1969, thường trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
  8. Nguyễn Văn H2, sinh năm: 1995, thường trú tại TDP A, phường P, TX. Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
  9. Trần Thị T4, sinh năm: 1990, thường trú tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh, nơi ở hiện tại thôn Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.

Tại hiện trường, Công an huyện tạm giữ số tiền tại sòng bạc 3.390.000đ (ba triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng) cùng nhiều đồ vật, tài liệu có liên quan đến hành vi đánh bạc trái phép của các đối tượng trên.

Các đối tượng thỏa thuận đánh bạc cụ thể như sau: Bà Nguyễn Thị B là người cầm xóc bầu cua, tức là trong mỗi ván đánh bạc, bà B sẽ bỏ ba hột kê gà vào một dĩa kim loại sau đó úp thau kim loại lên trên, sau đó bà B xóc để hột kê gà lăn trong lòng thau kim loại. Sau đó, người chơi sẽ đặt cược vào các hình ảnh trên tờ giấy có in các hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai với các số tiền tương ứng khác nhau. Sau khi đặt cược xong, bà B dùng tay mở ngửa thau kim loại để xem hình ảnh trên cùng của ba hột kê gà tương ứng với các hình trên tờ giấy mà người chơi đã đặt cược. Sau đó, căn cứ kết quả trên để bà B chung chi thắng thua với người chơi. Tại thời điểm bị Công an huyện M kiểm tra phát hiện, bà B chưa kịp mở ngửa thau kim loại để xem kết quả thắng thua, số tiền các đối tượng đánh bạc trên sòng là 3.390.000đ (ba triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng).

Quá trình điều tra xác định số tiền đánh bạc của từng đối tượng tham gia đánh bạc cũng như số tiền thắng thua tính đến thời điểm bị Công an huyện M kiểm tra phát hiện cụ thể như sau:

- Đối với ông Phan Văn G: Khi đến quán cà phê Kiều D2, ông G mang theo số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng), ông G trích ra và sử dụng số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) để sử dụng vào mục đích đánh bạc, còn lại số tiền 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng) ông G cất riêng trong người để dùng vào việc cá nhân. Tại thời điểm Công an huyện kiểm tra phát hiện, ông G tham gia đánh bạc ở ván thứ tư, số tiền trên chiếu bạc của ông G là 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) bao gồm số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) đang đặt cược vào hình con tôm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đang cầm trên tay dùng vào mục đích đánh bạc ông G ném vào chiếu bạc khi Công an vào kiểm tra. Do vậy, tính đến thời điểm Công an huyện kiểm tra phát hiện, ông G đang thắng số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng). Toàn bộ số tiền đánh bạc của ông G đều nằm trong số tiền 3.390.000đ (ba triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng) trên chiếu bạc.

- Đối với ông Nguyễn Văn H2: Khi đến quán cà phê Kiều D2, ông H2 mang theo số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng). Sau đó, ông H2 trích ra và sử dụng số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) để sử dụng vào mục đích đánh bạc, còn lại số tiền 2.600.000đ (hai triệu sáu trăm nghìn đồng) ông H2 cất riêng trong người dùng vào việc cá nhân. Tại thời điểm Công an huyện kiểm tra phát hiện, ông H2 tham gia đánh bạc ở ván thứ tư, số tiền trên chiếu bạc của ông H2 là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bao gồm số tiền 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) đang đặt cược và 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng) đang cầm trên tay dùng vào mục đích đánh bạc ông H2 ném vào chiếu bạc khi Công an vào kiểm tra. Do vậy, tính đến thời điểm Công an huyện kiểm tra phát hiện, ông H2 đang thua số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng). Như vậy, số tiền đánh bạc của ông H2 là 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng).

- Đối với ông Phạm N: Khi đến quán cà phê Kiều D2, ông N mang theo số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng). Sau đó, ông N trích ra và sử dụng số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) để sử dụng vào mục đích đánh bạc, còn lại số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) ông N cất riêng trong người dùng vào việc cá nhân. Tại thời điểm Công an huyện kiểm tra phát hiện, ông N tham gia đánh bạc ở ván thứ tư, số tiền trên chiếu bạc của ông N là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bao gồm số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) đang đặt cược vào hình con nai và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đang cầm trên tay dùng vào mục đích đánh bạc ông N ném vào chiếu bạc khi Công an vào kiểm tra. Do vậy, tính đến thời điểm Công an huyện kiểm tra phát hiện, ông N không thua. Như vậy, số tiền đánh bạc của ông N là 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng).

Đối với ông Đoàn Đình Đ: Khi đến quán cà phê Kiều D2, ông Đ mang theo số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Sau đó, ông Đ sử dụng số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) nêu trên để sử dụng vào mục đích đánh bạc. Tại thời điểm Công an huyện kiểm tra phát hiện, ông Đ tham gia đánh bạc ở ván thứ tư, số tiền trên chiếu bạc của ông Đ là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bao gồm số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) đang đặt cược vào hình con cua và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đang cầm trên tay dùng vào mục đích đánh bạc ông Đ ném vào chiếu bạc khi Công an vào kiểm tra. Do vậy, tính đến thời điểm Công an huyện kiểm tra phát hiện, ông Đ đang thua số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Như vậy, số tiền đánh bạc của ông Đ là 500.000đ (năm trăm nghìn đồng).

Đối với bị cáo Nguyễn Văn M1: Khi đến quán C2, M1 mang theo số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng). Sau đó, M1 trích ra và sử dụng số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) để sử dụng vào mục đích đánh bạc. Tại thời điểm Công an huyện kiểm tra phát hiện, M1 tham gia đánh bạc ở ván thứ tư, số tiền trên chiếu bạc của M1 là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bao gồm số tiền 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) đang đặt cược ô có hình bầu và 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng) đang cầm trên tay dùng vào mục đích đánh bạc M1 ném vào chiếu bạc khi Công an vào kiểm tra. Do vậy, tính đến thời điểm Công an huyện kiểm tra phát hiện, bị cáo M1 không thắng không thua. Như vậy, số tiền đánh bạc của M1 là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

- Đối với ông Lê Thanh T3: Khi đến quán cà phê Kiều D2, ông T3 mang theo số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Sau đó, ông T3 sử dụng số tiền 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) nêu trên để sử dụng vào mục đích đánh bạc. Tại thời điểm Công an huyện kiểm tra phát hiện, ông T3 tham gia đánh bạc ở ván thứ tư, số tiền trên chiếu bạc của ông T3 là 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng) bao gồm số tiền 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) đang đặt cược vào ô hình bầu và 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) đang cầm trên tay dùng vào mục đích đánh bạc ông T3 ném vào chiếu bạc khi Công an vào kiểm tra. Do vậy, tính đến thời điểm Công an huyện kiểm tra phát hiện, ông T3 thua số tiền 50.000đ (năm mươi nghìn đồng). Như vậy, số tiền đánh bạc của ông T3 là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

- Đối với bị cáo Võ Thanh M: Khi đến quán C2, Mỹ mang theo số tiền 900.000đ (chín trăm nghìn đồng). Sau đó, M trích ra và sử dụng số tiền 400.000₫ (bốn trăm nghìn đồng) để sử dụng vào mục đích đánh bạc, còn lại số tiền 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng) bị cáo M cất riêng trong người để sử dụng vào mục đích cá nhân. Tại thời điểm C3 phát hiện, M tham gia đánh bạc ở ván thứ tư, số tiền trên chiếu bạc của M là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) bao gồm số tiền 100.000₫ (một trăm nghìn đồng) đang đặt cược vào ô có hình bầu và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đang cầm trên tay dùng vào mục đích đánh bạc, M ném vào chiếu bạc khi Công an vào kiểm tra. Do vậy, tính đến thời điểm Công an huyện kiểm tra phát hiện, bị cáo M thua số tiền 100.000₫ (một trăm nghìn đồng). Như vậy, số tiền đánh bạc của M là 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng).

- Đối với ông Ngô Thanh H1: Khi đến quán cà phê Kiều D2, ông H1 mang theo số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng). Sau đó, ông H1 sử dụng số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) trên để sử dụng vào mục đích đánh bạc. Tại thời điểm Công an huyện kiểm tra phát hiện, ông H1 tham gia đánh bạc ở ván thứ tư, số tiền trên chiếu bạc của ông H1 là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bao gồm số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) đang đặt cược vào hình con cá và 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) đang cầm trên tay dùng vào mục đích đánh bạc ông H1 ném vào chiếu bạc khi Công an vào kiểm tra. Do vậy, tính đến thời điểm Công an huyện kiểm tra phát hiện, ông H1 thua số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng). Như vậy, số tiền đánh bạc của ông H1 là 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng).

- Đối với bà Trần Thị T4: Khi đến quán cà phê Kiều D2, bà T4 mang theo số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Sau đó, bà T4 sử dụng số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) trên để sử dụng vào mục đích đánh bạc. Tại thời điểm Công an huyện kiểm tra phát hiện, bà T4 tham gia đánh bạc ở ván thứ tư, số tiền trên chiếu bạc của bà T4 là 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) bao gồm số tiền 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) đang đặt cược vào ô có hình con tôm và 100.000đ (một trăm nghìn đồng) đang cầm trên tay dùng vào mục đích đánh bạc bà T4 ném vào chiếu bạc khi Công an vào kiểm tra. Do vậy, tính đến thời điểm Công an huyện kiểm tra phát hiện, bà T4 thua số tiền 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng). Như vậy, số tiền đánh bạc của bà T4 là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

- Đối với bà Nguyễn Thị B: Khi đến quán cà phê Kiều D2, bà B mang theo một bộ dụng cụ xóc bầu cua gồm một thau kim loại, một dĩa kim loại, ba hột kê gà và một tờ giấy in các hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai để nhằm mục đích cầm xóc bầu cua cho những người khác tham gia cá cược tiền và số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) nhằm mục đích chung chi thắng thua trong quá trình xóc bầu cua. Bà B là người cầm xóc bầu cua để những người còn lại đặt cược tiền, sau đó bà B căn cứ kết quả các mặt trên cùng của ba hột kê gà để xác định và chung chi thắng thua Tại thời điểm Công an huyện kiểm tra phát hiện, khi bà B chưa kịp mở ngửa thau kim loại để xem kết quả thắng thua. Lúc này, bà B đang cầm trên tay số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) đang cầm trên tay dùng vào mục đích chung chi đánh bạc ném vào chiếu bạc khi Công an vào kiểm tra. Do vậy, tính đến thời điểm Công an huyện kiểm tra phát hiện, bà B thua số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Như vậy, số tiền đánh bạc của bà B là 1.000.000đ (một triệu đồng). Toàn bộ số tiền trên có trong số tiền 3.390.000đ (ba triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng) thu giữ trên chiếu bạc.

Như vậy, tổng số tiền các đối tượng tham giá đánh bạc dưới hình thức xóc bầu cua thắng thua bằng tiền do bà Nguyễn Thị B cầm xóc bầu cua là 4.400.000₫ (bốn triệu bốn trăm nghìn đồng).

Tại Cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 25/12/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi truy tố các bị cáo Võ Thanh M, Nguyễn Văn M1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức tham gia phiên tòa giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Võ Thanh M, Nguyễn Văn M1 phạm tội đánh bạc.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M1 hình phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Võ Thanh M từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Áp dụng khoản 2 Điều 56 BLHS, tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù của bản án số 48/2024/HSPT ngày 04/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đối với bị cáo M.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và điều 106 BLTTHS

  • Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ dùng để xóc bầu cua.
  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 3.390.000 đồng.
  • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn M1 số tiền 2.200.000 đồng; trả lại cho bị cáo Võ Thanh M số tiền 500.000 đồng.

- Về án phí: Các bị cáo Võ Thanh M, Nguyễn Văn M1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Tuy nhiên những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra. Việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiếp tục xét xử vụ án.

[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Võ Thanh M, Nguyễn Văn M1 đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở, chứng cứ xác định:

Ngày 12/9/2024, tại quán C2 ở thôn C, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi, Võ Thanh M, Nguyễn Văn M1 có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bầu cua ăn thua bằng tiền cùng với các đối tượng khác với tổng số tiền đánh bạc được xác định là 4.400.000đ (bốn triệu bốn trăm nghìn đồng).

- Đối với bị cáo Võ Thanh M: Bị cáo là người có 02 tiền án về tội Đánh bạc chưa được xoá án tính. Tuy đang trong thời hạn hoãn thi hành án phạt tù nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc với số tiền 400.000 đồng. Hành vi của Võ Thanh M đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

- Đối với bị cáo Nguyễn Văn M1: Ngày 19/9/2023, bị cáo Nguyễn Văn M1 bị Công an huyện M ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc nhưng ngày 12/9/2024 bị can lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc với số tiền 300.000 đồng thì vẫn còn trong thời hạn bị coi là “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” theo quy định của pháp luật. Hành vi của Nguyễn Văn M1 đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo Võ Thanh M, Nguyễn Văn M1 là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng hiểu biết pháp luật. Các bị cáo biết rõ việc đánh bạc trái phép dưới mọi hình thức là tệ nạn xã hội và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; Hành vi của bị cáo không những đã xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn làm ảnh hưởng xấu đến đời sống văn hoá, nếp sống văn minh của xã hội. Các bị cáo đã tham gia đánh bạc với số tiền đánh bạc là 4.400.000 đồng, tuy nhiên bị cáo M chưa được xóa án tích, bị cáo M1 vẫn còn trong thời hạn bị coi là đã bị xử phạt vi phạm hành chính nên hành vi của bị cáo M, M1 đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, bị cáo Võ Thanh M đã thành đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn M1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có mẹ là bà Nguyễn Thị H là người có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

[6] Về mức hình phạt đối với từng bị cáo:

[6.1] Đối với bị cáo Võ Thanh M: bị cáo M khi thực hiện hành vi phạm tội đang có tiền án nhưng chưa được xóa án tích về tội đánh bạc. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng nhiều lần bị kết án nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà còn tiếp tục phạm tội. Do đó, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, ren đe bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

[6.2]Đối với bị cáo Nguyễn Văn M1: Bị cáo Nguyễn Văn M1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ để ren đe, giáo dục bị cáo.

Hiện nay bị cáo Nguyễn Văn M1 làm nông, thu nhập không ổn định nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo M1.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 bộ dụng cụ dùng để xóc bầu cua. Đây là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước số 3.390.000 đồng.
  • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn M1 số tiền 2.200.000 đồng; trả lại cho bị cáo Võ Thanh M số tiền 500.000 đồng.

[8] Các vấn đề khác:

Đối với Huỳnh Trung D1, Nguyễn Thị B, Phan Văn G, Ngô Thanh H1, Phạm N, Đoàn Đình Đ, Lê Thanh T3, Nguyễn Văn H2 và Trần Thị T4 do Nguyễn Thị B cầm xóc tuy chưa đủ định lượng để xử lý trách nhiệm hình sự và các đối tượng chưa có tiền án, tiền sự theo quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự nên đã bị xử phạt vi phạm hành chính là đúng theo quy định của pháp luật.

[9] Về căn cứ truy tố và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử.

[10] Về án phí: các bị cáo Võ Thanh M, Nguyễn Văn M1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Võ Thanh M, Nguyễn Văn M1 phạm tội “Đánh bạc”
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Võ Thanh M 06 tháng tù.
    • Áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù tại bản án hình sự phúc thẩm số 48/2024/HSPT ngày 04/04/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, buộc bị cáo Võ Thanh M phải chấp hành hình phạt 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/12/2024.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M1 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi nhận được quyết định thi hành án.
    • Không khấu trừ thu nhập đối với Nguyễn Văn M1.
    • Giao bị cáo Nguyễn Văn M1 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Nguyễn Văn M1 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
    • Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn M1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100; Điều 68 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
    • Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án Nguyễn Văn M1 phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự:
    • - Tịch thu, sung ngân sách nhà nước: số tiền 3.390.000 đồng (ba triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng) tạm giữ trên chiếu bạc.
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ dụng cụ dùng để xóc bầu cua bao gồm: 01 (một) thau kim loại có đường kính nơi rộng nhất là 21cm; 01 (một) dĩa kim loại hình tròn, có đường kính là 23cm; 03 (ba) hộ kê gà có sáu mặt, trên mỗi mặt có những hình ảnh khác nhau; 01 (một) tờ giấy có kích thước (60x40)cm, trên tờ giấy có in nhiều hình ảnh khác nhau.
    • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn M1 số tiền 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm nghìn đồng); trả lại cho bị cáo Võ Thanh M số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng)
    • Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộ Đức.
  3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn M1, Võ Thanh M mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

    Các bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND huyện Mộ Đức;
  • - CQCSĐT Công an huyện Mộ Đức;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Mộ Đức;
  • - Phòng NVLT Công an huyện Mộ Đức;
  • - Chi Cục THADS huyện Mộ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Minh Vương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI về đánh bạc

  • Số bản án: 06/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger