Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

Q. LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Hằng

Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 12-3-2025
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Anh Tuấn

- Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Dũng
  2. Ông Trịnh Văn Bạo

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 459/2025/TLST-HNGĐ ngày 30/10/2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXX-ST ngày 12/02/2025, Quyết định hoãn phiên toà số: 04/2025/QÐST-HNGĐ ngày 28/02/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tường V, sinh năm 1998. Nơi đăng ký thường trú: Tổ F, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Nơi ở hiện nay: Số F T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đức Nhân P, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Tổ F, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tường V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông P xây dựng gia đình, chung sống với nhau vào năm 2015, đến năm 2019 thì đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với gia đình chồng tại tổ F, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Quá trình chung sống đến năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, ông P ham chơi không lo làm ăn nên vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Từ tháng 09 năm 2020 thì bà chuyển đi sống nơi khác, vợ chồng ly thân từ đó tới nay không còn quan tâm gì tới nhau. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn của vợ chồng đã thật sự trầm trọng, không hàn gắn được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với ông P.

Về quan hệ con chung: Bà xác định giữa bà và ông P có 01 con chung tên là Nguyễn Thị Thanh B, sinh ngày 23/7/2015. Ly hôn, bà V có nguyện vọng giao con chung cho ông P nuôi dưỡng vì bà không có đủ điều kiện kinh tế. Tại phiên tòa bà V trình bày tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn ông Nguyễn Hoàng P1 đã được Toà án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến trình bày gửi Toà án.

* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Giấy chứng nhận kết hôn; bản sao khai sinh của con chung; CCCD, xác nhận thông tin cư trú của đương sự, biên bản xác minh tại địa phương của Tòa án.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho bà Nguyễn Thị Tường V được ly hôn ông Nguyễn Đức Nhân P. Về con chung: đề nghị giao con Nguyễn Thị Thanh B cho ông P nuôi dưỡng; chấp nhận ý kiến của bà V tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc ly hôn, bị đơn là ông Nguyễn Đức Nhân P có địa chỉ nơi cư trú tại quận L. Do vậy, đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên toà không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án:

[3] Bà Nguyễn Thị Tường V và ông Nguyễn Đức Nhân P có đăng ký kết hôn vào năm 2019 tại UBND phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 103 năm 2019), hôn nhân tự nguyện. Đây là hôn nhân có đủ các điều kiện do Luật Hôn nhân và Gia đình quy định nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[4] Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Tường V xác định mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng nên tha thiết xin ly hôn. Ông Nguyễn Đức Nhân P vắng mặt và không có ý kiến trình bày gì gửi Toà án xem xét.

[5] Xét yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Tường V thì thấy: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quá trình sống chung thì giữa vợ chồng bà Nguyễn Thị Tường V và ông Nguyễn Đức Nhân P xảy ra mâu thuẫn; nguyên nhân là do tính tình quan điểm sống không hợp; vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài. Ông Nguyễn Đức Nhân P đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến phản hồi, thể hiện ý chí không mong muốn hàn gắn mâu thuẫn và níu kéo cuộc hôn nhân này. Xét thấy, hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Tường V và ông Nguyễn Đức Nhân P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin được ly hôn của Nguyễn Thị Tường V là chính đáng, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho bà Nguyễn Thị Tường V được ly hôn ông Nguyễn Đức Nhân P.

[6] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Tường V xác định giữa bà và ông Nguyễn Đức Nhân P có 01 con chung tên là Nguyễn Thị Thanh B, sinh ngày 23/7/2015. Ly hôn, bà V có nguyện vọng giao con chung cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng. Theo biên bản xác minh tại địa phương thể hiện bà V bỏ đi nơi khác sống và để con chung lại cho ông P nuôi dưỡng đến nay; con chung Nguyễn Thị Thanh B cũng có nguyện vọng được sống cùng cha. Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao con chung cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với ý chí mong muốn của con chung và bảo đảm quyền lợi mọi mặt của con chung. Sau khi ly hôn, các đương sự vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa, bà V tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên. Theo khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của bà V.

[7] Về tài sản chung và nợ chung: Bà V xác định không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[8] Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về việc ly hôn: 300.000 đồng và Án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con: 300.000 đồng bà Nguyễn Thị Tường V phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 235, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 110, 116, 118 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” của bà Nguyễn Thị Tường V đối với ông Nguyễn Đức Nhân P.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Tường V ly hôn ông Nguyễn Đức Nhân P.

  2. Về con chung: Giao con chung tên là Nguyễn Thị Thanh B, sinh ngày 23/7/2015 cho ông Nguyễn Đức Nhân P trực tiếp nuôi dưỡng; bà Nguyễn Thị Tường V tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên (18 tuổi).

    Kể từ ngày bên có quyền có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên có nghĩa vụ chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền cấp dưỡng nuôi con nói trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thực hiện nghĩa vụ theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

    Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ đối với con chung các bên đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.

    Khi vì lợi ích con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.

  4. Về án phí:

    1. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về việc ly hôn 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị Tường V phải chịu nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0008847 ngày 30/10/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Bà Nguyễn Thị Tường V đã nộp đủ án phí sơ thẩm về việc ly hôn.

    2. Án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con: 300.000 đồng bà Nguyễn Thị Tường V phải chịu.

  5. Án xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

  6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND quận Liên Chiểu;
  • - Chi cục THADS quận L;
  • - UBND p. H, q. L
  • (Số ĐKKH: 103 ngày 01/7/2019);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Phạm Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 12/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà V ly hôn ông P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger