TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 11/3/2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Phương.
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Thị Phụng
- Ông Vũ Tiến Thịnh
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phí Thị L, sinh năm 1986
Địa chỉ: thôn Đ, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1987
Địa chỉ: thôn Đ, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam T, tỉnh Thanh Hóa.
(Chị L, anh H vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 01 năm 2025, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phí Thị L trình bày:
Chị và anh Nguyễn Mạnh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 02/10/2008 tại Ủy ban nhân dân xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc được 3 năm thì anh H vi phạm pháp luật nên bị Tòa án xử phạt 09 năm tù. Khi anh H chấp hành án xong trở về địa phương thì giữa vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng xa cách một thời gian dài, tính cách thay đổi không còn phù hợp với nhau, tình cảm phai nhạt. Anh H đã có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác và có con riêng. Năm 2021 anh H lại vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành án phạt tù lần thứ hai, anh chị sống ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh H.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Mạnh H có 01 con chung là Nguyễn Cao Mạnh H1, sinh ngày 14/6/2009, hiện con đang sống với chị. Chị làm công nhân của công ty M, thu nhập hàng tháng khoảng 6.000.000 đồng, đủ điều kiện để nuôi con. Do anh H đang phải chấp hành án tại Trại giam, không có điều kiện trực tiếp nuôi con nên chị đề nghị Tòa án giao con cho chị nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị và anh H không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại Văn bản trình bày ý kiến và Đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Mạnh H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị L xin ly hôn, anh nhất trí và đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh và chị L có 01 con chung là cháu Nguyễn Cao Mạnh H1, sinh ngày 14/6/2009. Từ khi cháu H1 còn nhỏ chị L đã bỏ đi làm, không nuôi dưỡng chăm sóc con; cháu H1 từ lúc 5 tuổi đã ở với ông bà nội. Nay cháu H1 đã lớn, bố mẹ ly hôn cháu tự quyết định xem muốn sống với ai, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo nguyện vọng của cháu.
Về tài sản chung: Anh và chị L không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do anh đang phải chấp hành án tại Trại giam T, tỉnh Thanh Hóa nên anh xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết và xét xử vụ án hôn nhân gia đình giữa anh và chị L.
* Tại văn bản trình bày ý kiến cũng như tại biên bản lấy lời khai của Tòa án, cháu Nguyễn Cao Mạnh H1 trình bày:
Trường hợp bố mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng được sống với mẹ.
* Tại biên bản xác minh ngày 05/3/2025, đại diện Ủy ban nhân dân xã P, thành phố T cung cấp:
Chị Phí Thị L và anh Nguyễn Mạnh H tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thành phố T vào ngày 02/10/2008. Sau khi kết hôn anh chị chung sống cùng gia đình tại thôn Đ, xã P. Quá trình chung sống anh H đã hai lần vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành án tại Trại giam, giữa vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Nay chị L xin ly hôn anh H, quan điểm của địa phương là đề nghị Tòa án hòa giải để anh chị quay về đoàn tụ. Trường hợp hòa giải không thành, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Chị L và anh H có 01 con chung như anh chị đã trình bày, hiện con đang sống cùng chị L. Trường hợp Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn, đề nghị Tòa án căn cứ nguyện vọng của anh chị, điều kiện nuôi con của mỗi bên để giải quyết, đảm bảo quyền lợi tốt nhất về mọi mặt cho con chung.
Chị L và anh H có tài sản chung gì địa phương không nắm được.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
- + Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phí Thị L được ly hôn anh Nguyễn Mạnh H.
- + Về quan hệ con chung: Giao cho chị Phí Thị L trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Cao Mạnh H1, sinh ngày 14/6/2009. Chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra giải quyết.
- + Về tài sản chung: không đặt ra giải quyết.
- + Về án phí: Chị Phí Thị L, anh Nguyễn Mạnh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Chị Phí Thị L khởi kiện xin ly hôn, đề nghị giải quyết về con chung với anh Nguyễn Mạnh H, cư trú tại thôn Đ, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
[1.2] Chị Phí Thị L và anh Nguyễn Mạnh H vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phí Thị L và anh Nguyễn Mạnh H được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 02/10/2008 tại Ủy ban nhân dân xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa anh chị đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh H đã hai lần phải đi chấp hành án tại Trại giam, vợ chồng sống xa cách trong thời gian dài, tình cảm phai nhạt, hai bên không còn yêu thương và tin tưởng nhau. Chị L, anh H đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, mỗi bên tự lo liệu cuộc sống riêng. Chị L xin ly hôn, anh H đồng ý ly hôn, điều đó thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị L được ly hôn anh H là phù hợp pháp luật.
[2.2] Quan hệ con chung: Chị Phí Thị L và anh Nguyễn Mạnh H có 01 con chung là Nguyễn Cao Mạnh H1, sinh ngày 14/6/2009, hiện con đang sống với chị L. Chị L đề nghị Toà án giao con cho chị nuôi dưỡng, cháu H1 cũng có nguyện vọng được ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn. Xét thấy, chị L có việc làm và thu nhập ổn định, anh H đang chấp hành án tại Trại giam, để đảm bảo ổn định cuộc sống và quyền lợi mọi mặt tốt nhất cho con chung, cần giao con Nguyễn Cao Mạnh H1 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Toà án không đặt ra giải quyết.
[2.3] Về tài sản: Chị Phí Thị L và anh Nguyễn Mạnh H không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
[2.4] Về án phí: Trước khi mở phiên tòa, chị L và anh H tự nguyện ly hôn nhưng không thỏa thuận được về con chung mà Tòa án xét xử và ra bản án nên anh chị phải chịu 50% mức án phí theo quy định đối với yêu cầu xin ly hôn.
[2.5] Về quyền kháng cáo: Chị Phí Thị L và anh Nguyễn Mạnh H có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phí Thị L được ly hôn anh Nguyễn Mạnh H.
- Về quan hệ con chung: Giao cho chị Phí Thị L trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Cao Mạnh H1, sinh ngày 14/6/2009, anh Nguyễn Mạnh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh H có quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Chị L, anh H có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
- Về quan hệ tài sản: không đặt ra giải quyết
- Về án phí: Chị Phí Thị L, anh Nguyễn Mạnh H mỗi người phải chịu 75.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ số tiền 300.000 đồng chị L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000846 ngày 04/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; trả lại chị L số tiền 225.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Chị Phí Thị L, anh Nguyễn Mạnh H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Minh Phương |
Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình
