Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGUYÊN BÌNH

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 06/2025/HS-ST

Ngày: 11-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mã Nguyệt Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

Lãnh Thị Muôn.

Ông Diêu Văn An.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Triệu Kiềm P, tên gọi khác: Không; sinh ngày 28-3-1993 tại xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng; nơi thường trú: Xóm N, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Vần Q, sinh năm 1966 và bà Hoàng Mùi P1, sinh năm 1966; vợ: Hoàng Mùi L1, sinh năm 1989; con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2016; bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04-11-2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực N. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Triệu Dào N, tên gọi khác: Không; sinh ngày 28-3-1981 tại xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng; nơi thường trú: Xóm N, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Vần C (đã chết) và bà Đặng Mùi P2, sinh năm 1944; vợ: Triệu Mùi N3, sinh năm 1982; con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2003; bị cáo có 04 anh, chị, em, bị cáo là con thứ tư; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04-11-2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực N. Có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Lý Văn D, tên gọi khác: Không; sinh ngày 01-3-1969 tại xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng; nơi thường trú: Xóm L, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn S (đã chết) và bà Hoàng Thị M (đã chết); vợ: Dương Thị D1, sinh năm 1968; bị cáo có 04 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2001; bị cáo là con một trong gia đình; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04-11-2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực N. Có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Hoàng Văn D2, tên gọi khác: Không; sinh ngày 02-10-1985 tại xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng; nơi thường trú: Xóm L, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T, sinh năm 1967 và bà Lý Thị K, sinh năm 1964; vợ: Hoàng Thị M, sinh năm 1989; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2012; bị cáo có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ năm; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04-11-2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực N. Có mặt tại phiên tòa.

5. Họ và tên: Đặng Phụ C1, tên gọi khác: Không; sinh ngày 12-6-1976 tại huyện N, tỉnh Cao Bằng; nơi thường trú: Xóm N, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Quầy P3 (đã chết) và bà Đặng Mùi G, sinh năm 1946; vợ: Hoàng Mùi P1, sinh năm 1976; bị cáo có 04 con, con lớn sinh năm 1998, com nhỏ sinh năm 2009; bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ năm; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05-11-2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực N. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Triệu Kiềm P và bị cáo Triệu Dào N: Bà Linh Thị A - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Phụ C1: Bà Sầm Thị L - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lý Văn D và bị cáo Hoàng Văn D2: Bà Lý Thị N1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Triệu Vần Q, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Xóm N, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
  • + Chị Hoàng Mùi L1, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Xóm N, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
  • + Chị Triệu Mùi N3, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Xóm N, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
  • + Chị Hoàng Thị M, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Xóm L, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
  • + Anh Lý Văn T1, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Xóm L, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
  • + Chị Đặng Mùi V, sinh năm 1998; Nơi cư trú: Xóm N, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
  • + Bà Dương Thị D1, sinh năm 1968; Nơi cư trú: Xóm L, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

- Người phiên dịch tiếng Dao: Bà Đặng Thị H; Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

- Người phiên dịch tiếng Mông: Bà Vương Thúy N2; Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 04-11-2024, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự - kinh tế - ma túy Công an huyện N phối hợp với Công an xã C bắt quả tang 03 vụ án ma túy, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào hồi 14 giờ 40 phút, ngày 04-11-2024, tại xóm K, xã C, huyện N, tổ công tác bắt quả tang Triệu Kiềm P, sinh năm 1993, trú tại xóm N, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: Trong túi áo khoác ngoài bên trái P đang mặc 02 gói nilon bên trong chứa thuốc phiện có khối lượng: 1,1631 gam; 01 điện thoại di động nhãn hiệu T189; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS mang biển kiểm soát: 11B1-124.31. Tại cơ quan điều tra P khai số chất nhựa màu đen Công an thu giữ là thuốc phiện của P mua với Lý Văn D, sinh năm 1969, trú tại xóm L, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng vào khoảng 13 giờ cùng ngày tại ngã ba C, xã C, huyện N với giá 400.000 đồng, mục đích để bản thân sử dụng.

Vụ thứ hai: Vào hồi 16 giờ 00 phút, ngày 04-11-2024, tại xóm K, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng tổ công tác đã bắt quả tang Triệu Dào N, sinh năm 1981, trú tại xóm N, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: Trong túi áo khoác ngoài bên trái N đang mặc có 01 gói nilon trong suốt có chứa nhựa thuốc phiện có khối lượng: 1,6621 gam; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, mang biển kiểm soát: 11B1-408.88. Tại cơ quan điều tra N khai số chất nhựa màu đen Công an thu giữ là thuốc phiện, N mua với Lý Văn D, sinh năm 1969, trú tại xóm L, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng vào khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày tại đường liên xóm N, xã C, huyện N với giá 950.000 đồng, mục đích để bản thân sử dụng.

Vụ thứ ba: Vào hồi 16 giờ 15 phút, ngày 04-11-2024, tại xóm N, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác đã bắt quả tang Hoàng Văn D2, sinh năm 1985 và Lý Văn D, sinh năm 1969, cùng trú tại xóm L, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ của D2 gồm: Trên tay trái đang cầm 01 gói nhỏ nilon trong suốt bên trong có nhựa thuốc phiện có khối lượng: 0,3697 gam; Thu giữ trong túi da màu đen Dinh đeo trên người 950.000 đồng; 02 điện thoại di động; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave RSX, màu sơn xanh-đen, mang biển kiểm soát: 11AN-003.50; Tạm giữ của Lý Văn D 03 điện thoại di động. Dờ khai nhận số thuốc phiện Công an thu giữ của D2 là của D đưa cho D2 cầm, nguồn gốc do D mua với Đặng Phụ C1, sinh năm 1976, trú tại xóm N, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng từ khoảng tháng 10-2024 với số tiền 500.000 đồng. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lý Văn D tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu trắng xám đen, mang biển kiểm soát: 11X1-1958.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành bắt, khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của Đặng Phụ C1 và tạm giữ 01 điện thoại di động. Chòi khai nhận: Cuối năm 2018, C1 trồng cây thuốc phiện ở một khoảng đất trống trên rừng tự nhiên, cách nhà C1 khoảng 700 mét thuộc xóm N, xã T, huyện N. Đến đầu năm 2019, thu hoạch, C1 đã chiết xuất lấy nhựa phơi khô gói lại và cất giấu dưới mái của chuồng bò gia đình. Từ tháng 8 đến tháng 10-2024, C1 đã lấy số thuốc phiện bán cho Lý Văn D 03 lần, lần thứ nhất bán 01 gói giá 300.000 đồng. Địa điểm trao đổi, mua bán tại nhà của C1. Lần thứ hai và thứ ba bán mỗi lần 01 gói giá 500.000 đồng. Địa điểm trao đổi, mua bán tại bãi cỏ chăn thả trâu bò thuộc xóm B, xã T. Tổng số tiền thu được từ việc bán thuốc phiện cho D là 1.300.000 đồng.

Đối với Lý Văn D, sau khi mua được nhựa thuốc phiện đã bán lại cho Triệu Kiềm P và Triệu Dào N như sau:

Bán ma túy cho Triệu Kiềm P nhiều lần nhưng không nhớ cụ thể thời gian, địa điểm, số tiền. Dờ chỉ nhớ lần gần nhất bán ma túy cho P vào khoảng 12 giờ ngày 04-11-2024, bán 02 gói thuốc phiện có khối lượng: 1,1631 gam với giá 400.000 đồng. Địa điểm trao đổi, mua bán ở ngã ba C thuộc xóm L, xã V, huyện N, tỉnh Cao Bằng.

Bán ma túy cho Triệu Dào N nhiều lần nhưng không nhớ cụ thể thời gian, địa điểm, số tiền. Dờ chỉ nhớ lần gần nhất bán ma túy cho N vào ngày 04-11-2024. Khoảng 15 giờ, N gọi điện thoại cho D để hỏi mua nhựa thuốc phiện với số tiền 950.000 đồng. D đồng ý và hẹn gặp nhau ở đoạn đường thuộc xóm N, xã C, huyện N để trao đổi. Do không có xe mô tô nên D đã gọi điện thoại cho Hoàng Văn D2 bảo điều khiển xe mô tô đến đón D đi có việc. D2 đồng ý đưa D đi. Sau đó, D2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave RSX, màu sơn xanh-đen, mang biển kiểm soát: 11AN-003.50 đến đón D. Trên đường đi, D nói với D2 là đi đến xóm N để bán ma túy (nhựa thuốc phiện) cho người khác và hứa xong việc sẽ trả công cho D2 100.000 đồng thì D2 đồng ý. D đưa cho D2 cầm giúp 01 gói nhỏ ma túy và nói "có người khác hỏi mua thì sẽ bán cho người đó" D2 đồng ý cầm. Dờ cất 01 gói nhựa thuốc phiện khác trong người mục đích để bán cho Triệu Dào N. Khi đến đoạn đường vắng thuộc xóm N, xã C thì D xuống xe và đi bộ một mình xuống ta luy âm cạnh đường còn D2 đợi trên đường. Sau đó, Triệu Dào N một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX mang BKS: 11B1-408.88 đến điểm hẹn thì thấy D2 đang ngồi trên xe ở cạnh đường. N hỏi D2 "có phải là người chở Lý Văn D đến không?" Dinh trả lời là đúng nên N đưa cho D2 số tiền 950.000 đồng và nói "tiền này để trả cho Lý Văn D". Khi nhận số tiền này, D2 biết là tiền mua nhựa thuốc phiện với D và cất vào túi. Sau đó, D đi từ ta luy âm lên gặp N rồi đưa cho N 01 gói nilon chứa ma túy (nhựa thuốc phiện) có khối lượng: 1,6621 gam.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 254, 255, 256 ngày 05-11-2024 đối với vật chứng vụ án. Tại kết luận giám định số: 598, 603, 605/KL-KTHS, ngày 12,13-11-2024 của Phòng K2 Công an tỉnh C kết luận: "mẫu chất dẻo màu đen bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Thuốc phiện".

Quá trình điều tra, Đặng Phụ C1, Lý Văn D, Hoàng Văn D2, Triệu Kiềm P, Triệu Dào N thành khẩn khai báo, thừa nhận về hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Với hành vi nêu trên, Cáo trạng số 07/CT-VKSNB ngày 11-02-2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng truy tố các bị cáo Đặng Phụ C1 và Lý Văn D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Hoàng Văn D2 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Triều Kiềm P4 và Triệu Dào N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Qua xét hỏi công khai tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị:

  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS. Xử phạt bị cáo Đặng Phụ C1 mức án từ 08 đến 09 năm tù.
  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của BLHS. Xử phạt bị cáo Lý Văn D mức án từ 07 năm đến 08 năm tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của BLHS. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn D2 mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
  • + Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS. Xử phạt bị cáo Triệu Kiềm P và Triệu Dào Nhàn mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Tịch thu tiêu huỷ 06 phong bì thư niêm phong là vật Nhà nước cấm lưu hành.
  • + Tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động thu giữ của Triệu Dào N; 03 (ba) chiếc điện thoại di động thu giữ của Lý Văn D; 02 (hai) chiếc điện thoại di động thu giữ của Hoàng Văn D2.
  • + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 950.000 đồng thu giữ của Hoàng Văn D2.
  • + Trả lại cho bà Triệu M1 Nhậy ½ giá trị chiếc xe và tịch thu sung vào ngân sách nhà nước ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda WAVE RSX màu đỏ đen, mang biển kiểm soát: 11B1-408.88.
  • + Trả lại cho bà Hoàng M2 Lưu ½ giá trị chiếc xe và tịch thu sung vào ngân sách nhà nước ½ giá trị chiếc xe nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đen, mang biển kiểm soát: 11B1-124.31.
  • + Trả lại cho bà Hoàng Thị M ½ giá trị chiếc xe và tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước ½ giá trị chiếc xe nhãn hiệu Honda WAVE RSX màu xanh đen, mang biển kiểm soát: 11AN-00350.
  • + Trả lại cho anh Hoàng Văn T ½ giá trị chiếc xe và tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước ½ giá trị chiếc xe nhãn hiệu Honda WAVE RSX màu trắng xám đen, mang biển kiểm soát: 11X1-1958.
  • + Trả lại cho ông Triệu Vần Q 01 (một) chiếc điện thoại di động thu giữ của Triệu Kiềm P.
  • + Trả lại cho chị Đặng M3 Viện 01 (một) chiếc điện thoại di động thu giữ của Đặng Phụ C1".
  • + Truy thu đối với Đặng Phụ C1 số tiền 1.300.000đ; Lý Văn D số tiền 400.000đ.

- Về án phí hình sự: Các bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và thừa nhận cáo trạng truy tố đúng hành vi của các bị cáo. Các bị cáo không có ý kiến bào chữa và tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo rất ăn năn, hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo: Người bào chữa cho các bị cáo nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, các bị cáo đã phạm tội tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các vấn đề sau: Các bị cáo phạm tội lần đầu, có thái độ thành khẩn khai báo và ăn năn hối hận về hành vi của mình. Các bị cáo đều là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, không được đi học, trình độ nhận thức còn hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo. Về vật chứng của vụ án, người bào chữa cho bị cáo N và bị cáo P đề nghị trả lại chiếc xe đang bị tạm giữ cho các bị cáo vì các bị cáo không tàng trữ, cất dấu ma túy trên xe, hơn nữa đây là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, chiếc xe là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình. Người bào chữa cho bị cáo D đề nghị trả lại chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO cho bà Dương Thị D1. Người bào chữa cho bị cáo P đề nghị trả lại chiếc điện thoại thu giữ cho bố của bị cáo là ông Triệu Vần Q1. Người bào chữa cho bị cáo C1 đề nghị trả lại chiếc điện thoại thu giữ cho con gái của bị cáo là chị Đặng Mùi V. Người bào chữa cho bị cáo D1 đề nghị trả lại 02 chiếc điện thoại đã thu giữ cho bị cáo vì bị cáo không sử dụng để liên lạc trao đổi mua bán thuốc phiện. Đối với các vật chứng khác, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý theo quy định của pháp luật. Về án phí, các bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí cho các bị cáo.

Ý kiến của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Triệu Vần Q là bố của bị cáo P, chiếc điện thoại P sử dụng và bị cơ quan Công an thu giữ là điện thoại của ông Q. Ông Q không biết P sử dụng điện thoại để liên lạc mua thuốc phiện, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại điện thoại cho ông Q.

Chị Hoàng Mùi L1 là vợ của bị cáo P. Chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 11B1-12431 là tài sản chung của vợ chồng chị L1. Piao lấy xe đi mua thuốc phiện chị Lưu K1 biết. Hoàn cảnh gia đình khó khăn, chiếc xe là phương tiện đi lại chung của cả gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe cho chị L1.

Chị Triệu Mùi N3 là vợ của bị cáo N. Chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 11B1-40888 là tài sản chung của vợ chồng chị N3. N lấy xe đi mua thuốc phiện chị N3 không biết. Hoàn cảnh gia đình khó khăn, chiếc xe là phương tiện đi lại chung của cả gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe cho chị N3.

Bà Hoàng Thị M là vợ của bị cáo D1. Chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 11AN-00350 là tài sản chung của vợ chồng bà M4. D1 lấy xe đi bán thuốc phiện bà M4 không biết. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe cho chị bà M4.

Anh Lý Văn T1 là con trai của bị cáo Lý Văn D. Chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 11X1-1958 là tài sản chung của bị cáo D và anh T1. Anh T1 không biết bị cáo lấy xe đi bán thuốc phiện. Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe cho anh T1.

Bà Dương Thị D1 là vợ của bị cáo D. Chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO Dờ cầm theo đi bán thuốc phiện là điện thoại của bà D1, không liên quan đến việc phạm tội của D nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại điện thoại cho bà D1.

Chị Đặng Mùi V là con gái của bị cáo Đặng Phụ C1. Chiếc điện thoại C1 sử dụng và bị cơ quan Công an thu giữ là điện thoại của chị V. Chị V không biết C1 sử dụng điện thoại để liên lạc mua thuốc phiện, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại điện thoại cho chị V.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra Viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản cân ma túy, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ để kết luận: Đầu năm 2018, Đặng Phụ C1 trồng cây thuốc phiện lấy nhựa và cất giấu dưới mái chuồng bò. Đến năm 2024, C1 bán thuốc phiện cho Lý Văn D ba lần: Lần thứ nhất 01 gói với giá 300.000đ; lần thứ hai và lần thứ ba mỗi lần 01 gói với giá 500.000đ. Tổng số tiền C1 thu lợi là 1.300.000 đồng. Sau khi mua được nhựa thuốc phiện, trong ngày 04-11-2024, D đã bán nhựa thuốc phiện cho Triệu Kiềm P 02 gói có khối lượng: 1,1631 gam với giá 400.000 đồng; bán cho Triệu Dào N 01 gói nhựa thuốc phiện có khối lượng: 1,6621 gam với giá 950.000 đồng. Tổng số tiền D thu lợi là 1.350.000 đồng. Số nhựa thuốc phiện còn lại D chưa kịp bán, khi bắt quả tang thu giữ có khối lượng: 0,3697 gam. Piao và N mua thuốc phiện nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hoàng Văn D2 có hành vi giúp sức cho Lý Văn D, chở D đi bán nhựa thuốc phiện cho Triệu Dào N. Khi thực hiện hành vi, các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo Đặng Phụ C1 và Lý Văn D đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251; hành vi của bị cáo Hoàng Văn D2 đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251; hành vi của bị cáo Triệu Dào N và Triệu Kiềm P đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao cô ca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500gam.

...”

“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...

b) Phạm tội 02 lần trở lên

...”

Như vậy, cáo trạng số 07/CT-VKSNB ngày 11-02-2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình truy tố các bị cáo Đặng Phụ C1, Lý Văn D, Hoàng Văn D2, Triệu Kiềm P, Triệu Dào N là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm:

Hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma tuý của các bị cáo Triệu Dào N, Triệu Kiềm P, Hoàng Văn D2 là nghiêm trọng, hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Lý Văn D và Đặng Phụ C1 là rất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, tạo điều kiện cho tệ nạn và các tội phạm về ma túy tồn tại. Mặt khác hành vi phạm tội của các bị cáo còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng Nhân dân, cản trở cho cuộc đấu tranh phòng chống các tội phạm về ma tuý của Đảng và Nhà nước ta, thúc đẩy việc hình thành những hành vi phạm tội khác từ việc sử dụng ma túy trong xã hội nên cần xử lý nghiêm khắc để làm gương cho người khác, đồng thời phục vụ công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm ma túy ở địa phương.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

- Tình tiết giảm nhẹ: Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho cả 05 bị cáo.

Người bào chữa cho các bị cáo đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo do các bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, các bị cáo đều không được đi học.

Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình do đó áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho cả 05 bị cáo. Đối với đề nghị của người bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xét thấy các bị cáo là dân tộc thiểu số, sinh sống ở nơi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn tuy nhiên các bị cáo đã được tuyên truyền về việc Nhà nước cấm trồng, tàng trữ, mua bán các chất ma túy, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Trình độ văn hóa thấp không phải nguyên nhân dân dẫn đến hành vi phạm tội nên không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo.

- Tình tiết tăng nặng: Không có.

- Về nhân thân:

Bị cáo N, P, D2 có nhân thân xấu, sử dụng thuốc phiện. Để có thuốc phiện phục vụ nhu cầu bản thân, bị cáo N và P đi mua ma thuốc phiện dẫn đến hành vi phạm tội. Biết bị cáo D2 sử dụng thuốc phiện nên bị cáo D đã nhờ D2 chở đi bán thuốc phiện, D2 biết việc D bán thuốc phiện là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi, được D trả công nên D2 đồng ý giúp D bán thuốc phiện.

Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo C1 và bị cáo D có nhân thân tốt. Tuy không sử dụng thuốc phiện nhưng do hám lợi các bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán thuốc phiện.

[5] Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Sau khi xem xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có khả năng tự tu dưỡng, cải tạo nên cần cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định để các bị cáo có điều kiện giáo dục, cải tạo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội.

- Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên và người bào chữa cho các bị cáo về hình phạt phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[6] Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 xử lý vật chứng như sau:

  • - Đối với 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước ghi: “Vật chứng thu giữ vụ Hoàng Văn D2, SN: 1985, Lý Văn D, SN: 1969 tại xóm N, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng bắt ngày 04-11-2024”, mặt sau phong bì thư có điểm chỉ của đối tượng, chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 hình dấu giáp lai của Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Cao Bằng là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước ghi: “Vật chứng thu giữ vụ Triệu Dào N, SN: 1981 tại xóm N, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bắt ngày 04-11-2024”, mặt sau phong bì thư có điểm chỉ của đối tượng, chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 hình dấu giáp lai của Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Cao Bằng là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước ghi: “Vật chứng thu giữ vụ Triệu Kiềm P, SN: 1993 tại xóm K, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bắt ngày 04-11-2024”, mặt sau phong bì thư có chữ ký của đối tượng, chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 hình dấu giáp lại của Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Cao Bằng là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động đã niêm phong trong 01 (một) phong bì thư mặt trước ghi: "Điện thoại của Triệu Kiềm P, SN: 1993, trú tại xóm N, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng", mặt sau phong bì thư có chữ ký của đối tượng, chữ ký của thành phần tham gia niêm phong đóng 04 hình dấu giáp lại của Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Cao Bằng là điện thoại của ông Triệu Vần Q, ông Q không biết P sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên cần trả lại cho ông Q.
  • - Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động đã niêm phong trong 01 (một) phong bì thư mặt trước ghi: "Điện thoại thu giữ của Đặng Phụ C1", mặt sau phong bì thư có điểm chỉ của đối tượng, chữ ký của thành phần tham gia niêm phong đóng 04 hình dấu giáp lại của Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Cao Bằng là điện thoại của chị Đặng Mùi V, chị V không biết C1 dùng để liên lạc mua bán ma túy nên cần trả lại cho chị V.
  • - Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động đã niêm phong trong 01 (một) phong bì thư mặt trước ghi “Điện thoại thu giữ của Triệu Dào N, SN: 1981, trú tại xóm N, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng", mặt sau phong bì thư có điểm chỉ của đối tượng, chữ ký của thành phần tham gia niên phong và đóng 04 hình dấu giáp lai của Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Cao Bằng là điện thoại của N, N sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với 01 (một) phong bì thư niêm phong mặt trước ghi “Hoàn mẫu sau giám định vụ Hoàng Văn D2 và Lý Văn D có hành vi mua bán trái phép chất ma túy xảy ra ngày 04-11-2024", mặt sau phong bì thư có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 hình dấu giáp lại của phòng KTHS Công an tỉnh C là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 (một) phong bì thư niêm phong mặt trước ghi: “Hoàn mẫu vụ Triệu Kiềm P, tàng trữ trái phép chất ma túy”, mặt sau phong bì thư có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 hình dấu giáp lại của phòng KTHS Công an tỉnh C là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 (một) phong bì thư niêm phong mặt trước ghi: “Hoàn lại mẫu sau giám định vụ Triệu Dào N có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 04-11-2024", mặt sau phong bì thư có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 hình dấu giáp lại của phòng KTHS Công an tỉnh C là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với số tiền 950.000 đồng thu giữ của Hoàng Văn D2 là tiền bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Truy thu đối với Đặng Phụ C1 số tiền 1.300.000đ, Lý Văn D số tiền 400.000đ là tiền đã bán ma tuý mà có.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên và người bào chữa cho các bị cáo về việc xử lý các vật chứng trên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

  • - Đối với 03 (ba) chiếc điện thoại di động đã niêm phong trong một phong bì thư mặt trước ghi: “Điện thoại thu giữ của Lý Văn D, SN: 1969”, mặt sau phong bì thư có điểm chỉ của đối tượng, chữ ký của thành phần tham gia niên phong và đóng 04 hình dấu giáp lai của Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Cao Bằng Kiểm sát viên đề nghị tịch thu phát mại sung vào Ngân sách Nhà nước. Người bào chữa cho bị cáo D đề nghị trả lại chiếc điện thoại OPPO màu hồng cho bà Dương Thị D1 do đây là điện thoại của bà D1, không liên quan đến hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy: 02 (hai) chiếc điện thoại gồm: 01 điện thoại di động bàn phím màu đen, đã qua sử dụng, nhãn hiệu Masstel có số IMEIL1 352766246833743 và 01 điện thoại di động bàn phím màu xanh, đã qua sử dụng, nhãn hiệu Masstel có số IMEIL1 350335891678209 là tài sản của D. D sử dụng để liên lạc trao đổi mua bán ma túy nên cần tịch thu phát mại sung vào Ngân sách Nhà nước; 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng đã qua sử dụng, nhãn hiệu OPPO màu hồng có số IMEIL1 869052038721354 là điện thoại của bà Dương Thị D1, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bà D1.
  • - Đối với 02 (hai) chiếc điện thoại di động đã niêm phong trong 01 (một) phong bì thư mặt trước ghi "Điện thoại thu giữ của Hoàng Văn D2, SN: 1985, trú tại xóm L, xã C huyện N, tỉnh Cao Bằng", mặt sau phong bì thư có điểm chỉ của đối tượng, chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 hình dấu giáp lại của Cơ quan CSDT Công an huyện N, tỉnh Cao Bằng là điện thoại của D2. Kiểm sát viên đề nghị tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước do kiểm tra lịch sử cuộc gọi trong điện thoại có số điện thoại của D gọi cho D2. Người bào chữa cho bị cáo D2 đề nghị trả lại cho bị cáo do khi D gọi điện cho D2, không trao đổi vấn đề gì liên quan đến việc mua bán ma túy. Sau khi gặp D và chở D đến nơi, D2 mới biết D đi bán ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy, trong lịch sử cuộc gọi của 02 chiếc điện thoại trên có số điện thoại của D gọi cho D2. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận, khi D gọi điện cho D2 không trao đổi vấn đề gì liên quan đến việc mua bán ma túy. Khi D2 chở D đi, D mới nói cho D2 biết đi bán ma túy. Do đó, không cần thiết phải tịch thu điện thoại mà trả lại cho bị cáo D2.
  • - Đối với 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng, nhãn hiệu Honda WAVE RSX màu đỏ đen, mang biển kiểm soát: 11B1-408.88, số máy JA52E-0071608, số khung: RLHJA3843KY032343, 2 bên yếm xe bị xước; 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng, nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đen, mang biển kiểm soát: 11B1-124.31, số kung RLCS5C6J0FY136014, số máy 5C6J-136010, không có gương chiếu hậu, không có võng xe; 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng nhãn hiệu Honda WAVE RSX màu xanh đen, mang biển kiểm soát: 11AN - 00350, số máy JA52E-0614336, số khung RLHJA3858PY240041; 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng, nhãn hiệu Honda WAVE RSX màu trắng xám đen, mang biển kiểm soát: 11X1-1958, số khung RLHJC4327AY126665, số máy JC43E5586444, vỏ xe có nhiều vết xước Kiểm sát viên đề nghị tịch thu ½ giá trị mỗi chiếc xe sung vào ngân sách Nhà nước. Trả lại ½ giá trị của mỗi chiếc xe cho các chủ sở hữu gồm bà Triệu Mùi N3, bà Hoàng Mùi L1, bà Hoàng Thị M, anh Lý Văn T1. Người bào chữa cho bị cáo N và bị cáo P đề nghị trả chiếc xe mang biển kiểm soát: 11B1-408.88 cho bà Triệu Mùi N3, trả chiếc xe mang biển kiểm soát 11B1-124.31 cho bà Hoàng M2 Lưu vì đây là tài sản chung của vợ chồng các bị cáo. Các bị cáo N và P bị xử lý về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, các bị cáo không cất dấu ma túy trong xe, hơn nữa khi các bị cáo lấy xe đi vợ của các bị cáo không biết. Hội đồng xét xử xét thấy, đối với xe mô tô mang biển kiểm soát: 11B1-408.88 là tài sản chung của bị cáo N và vợ là Triệu Mùi N3; xe mô tô mang biển kiểm soát: 11B1-124.31 là tài sản chung của bị cáo P và vợ là Hoàng Mùi L1. Khi bị cáo P và N lấy xe đi mua ma túy, vợ của các bị cáo không biết. Hoàn cảnh gia đình của 02 bị cáo khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo, chiếc xe là phương tiện đi lại chung của cả gia đình, hơn nữa 02 bị cáo không tàng trữ, cất dấu ma túy trên xe nên không cần thiết phải tịch thu xe mà trả lại cho vợ của các bị cáo. Đối với xe mô tô 11AN-00350 là tài sản chung của bị cáo D2 và vợ là Hoàng Thị M. Xe mô tô mang biển kiểm soát: 11X1-1958 là tài sản chung của bị cáo D và con trai là anh Lý Văn T1. Bị cáo D và bị cáo D2 sử dụng xe làm phương tiện đi bán ma túy do đó cần tịch thu ½ giá trị của mỗi chiếc xe sung vào ngân sách Nhà nước và trả lại ½ giá trị mỗi chiếc xe cho bà M4 và anh T1.

[7] Về án phí: Các bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn nộp tiền án phí. Do đó, cần xem xét cho các bị cáo được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xét đề nghị của Kiểm sát viên và người bào chữa cho các bị cáo về án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

1.1. Tuyên bố bị cáo Đặng Phụ C1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 08 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05-11-2024.

1.2. Tuyên bố bị cáo Lý Văn D phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 07 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 04-11-2024.

1.3. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn D2 phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 24 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 04-11-2024.

1.4. Tuyên bố các bị cáo Triệu Kiềm P và Triệu Dào N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Triệu Kiềm P và Triệu Dào N 14 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 04-11-2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu huỷ 06 phong bì thư gồm:

  • + 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước ghi: “Vật chứng thu giữ vụ Hoàng Văn D2, SN: 1985, Lý Văn D, SN: 1969 tại xóm N, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng bắt ngày 04-11-2024", mặt sau phong bì thư có điểm chỉ của đối tượng, chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 hình dấu giáp lai của Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Cao Bằng.
  • + 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước ghi: “Vật chứng thu giữ vụ Triệu Dào N, SN: 1981 tại xóm N, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bắt ngày 04-11-2024", mặt sau phong bì thư có điểm chỉ của đối tượng, chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 hình dấu giáp lại của Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Cao Bằng.
  • + 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước ghi: “Vật chứng thu giữ vụ Triệu Kiềm P, SN: 1993 tại xóm K, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bắt ngày 04-11-2024", mặt sau phong bì thư có chữ ký của đối tượng, chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 hình dấu giáp lại của Cơ quan CSD Công an huyện N, tỉnh Cao Bằng.
  • + 01 (một) phong bì thư niêm phong mặt trước ghi “Hoàn mẫu sau giám định vụ Hoàng Văn D2 và Lý Văn D có hành vi mua bán trái phép chất ma túy xảy ra ngày 04-11-2024", mặt sau phong bì thư có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 hình dấu giáp lại của phòng KTHS Công an tỉnh C.
  • + 01 (một) phong bì thư niêm phong mặt trước ghi: “Hoàn mẫu vụ Triệu Kiềm P, tàng trữ trái phép chất ma túy”, mặt sau phong bì thư có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 hình dấu giáp lại của phòng KTHS Công an tỉnh C.
  • + 01 (một) phong bì thư niêm phong mặt trước ghi: “Hoàn lại mẫu sau giám định vụ Triệu Dào N có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 04-11-2024", mặt sau phong bì thư có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 hình dấu giáp lại của phòng KTHS Công an tỉnh C.

- Tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước:

  • + 01 (một) chiếc điện thoại di động đã niêm phong trong 01 (một) phong bì thư mặt trước ghi “Điện thoại thu giữ của Triệu Dào N, SN: 1981, trú tại xóm N, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng", mặt sau phong bì thư có điểm chỉ của đối tượng, chữ ký của thành phần tham gia niên phong và đóng 04 hình dấu giáp lai của Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Cao Bằng.
  • + 02 (hai) chiếc điện thoại di động đã niêm phong trong một phong bì thư mặt trước ghi: “Điện thoại thu giữ của Lý Văn D, SN: 1969", mặt sau phong bì thư có điểm chỉ của đối tượng, chữ ký của thành phần tham gia niên phong và đóng 04 hình dấu giáp lai của Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Cao Bằng gồm: 01 điện thoại di động bàn phím màu đen, đã qua sử dụng, nhãn hiệu Masstel có số IMEIL1 352766246833743 và 01 điện thoại di động bàn phím màu xanh, đã qua sử dụng, nhãn hiệu Masstel có số IMEIL1 350335891678209.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 950.000 đồng thu giữ của Hoàng Văn D2.

- Trả lại cho bà Triệu M1 Nhậy 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng, nhãn hiệu Honda WAVE RSX màu đỏ đen, mang biển kiểm soát: 11B1-408.88, số máy JA52E-0071608, số khung: RLHJA3843KY032343, 02 bên yếm xe bị xước.

- Trả lại cho bà Hoàng Mùi L1 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng, nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đen, mang biển kiểm soát: 11B1-124.31, số kung RLCS5C6J0FY136014, số máy 5C6J-136010, không có gương chiếu hậu, không có võng xe.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước ½ giá trị chiếc xe; trả lại cho bà Hoàng Thị M ½ giá trị chiếc xe mô tô đã qua sử dụng nhãn hiệu Honda WAVE RSX màu xanh đen, mang biển kiểm soát: 11AN-00350, số máy JA52E-0614336, số khung RLHJA3858PY240041.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước ½ giá trị chiếc xe; trả lại cho anh Hoàng Văn T ½ giá trị chiếc xe mô tô đã qua sử dụng, nhãn hiệu Honda WAVE RSX màu trắng xám đen, mang biển kiểm soát: 11X1-1958, số khung RLHJC4327AY126665, số máy JC43E5586444, vỏ xe có nhiều vết xước.

- Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn D2 02 (hai) chiếc điện thoại di động đã niêm phong trong 01 (một) phong bì thư mặt trước ghi "Điện thoại thu giữ của Hoàng Văn D2, SN: 1985, trú tại xóm L, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng", mặt sau phong bì thư có điểm chỉ của đối tượng, chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 hình dấu giáp lại của Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Cao Bằng.

- Trả lại cho ông Triệu Vần Q 01 (một) chiếc điện thoại di động đã niêm phong trong 01 (một) phong bì thư mặt trước ghi: "Điện thoại của Triệu Kiềm P, SN: 1993, trú tại xóm N, xã C, huyện N, tỉnh Cao Bằng", mặt sau phong bì thư có chữ ký của đối tượng, chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 hình dấu giáp lại của Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Cao Bằng.

- Trả lại cho chị Đặng M3 Viện 01 (một) chiếc điện thoại di động đã niêm phong trong 01 (một) phong bì thư mặt trước ghi: "Điện thoại thu giữ của Đặng Phụ C1", mặt sau phong thư có điểm chỉ của đối tượng, chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 hình dấu giáp lại của Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Cao Bằng.

- Trả lại cho bà Dương Thị D1 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng đã qua sử dụng, nhãn hiệu OPPO màu hồng có số IMEIL1 869052038721354 trong một phong bì thư niêm phong mặt trước ghi: “Điện thoại thu giữ của Lý Văn D, SN: 1969", mặt sau phong bì thư có điểm chỉ của đối tượng, chữ ký của thành phần tham gia niên phong và đóng 04 hình dấu giáp lại của Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Cao Bằng.

Những vật chứng trên đã chuyển đến chi cục Thi hành án dân sự huyện Nguyên Bình theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 09 ngày 20-02-2025.

- Truy thu đối với Đặng Phụ C1 số tiền 1.300.000đ; Lý Văn D số tiền 400.000đ.

3. Về án phí:

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND huyện;
  • - Công an huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Bị cáo; người bào chữa;
  • - UBND xã Ca Thành, xã Triệu Nguyên;
  • - Lưu HS;
  • - Lưu AV.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Mã Nguyệt Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 06/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đầu năm 2018, Đặng Phụ C1 trồng cây thuốc phiện lấy nhựa và cất giấu dưới mái chuồng bò. Đến năm 2024, C1 bán thuốc phiện cho Lý Văn D ba lần: Lần thứ nhất 01 gói với giá 300.000đ; lần thứ hai và lần thứ ba mỗi lần 01 gói với giá 500.000đ. Tổng số tiền C1 thu lợi là 1.300.000 đồng. Sau khi mua được nhựa thuốc phiện, trong ngày 04-11-2024, D đã bán nhựa thuốc phiện cho Triệu Kiềm P 02 gói có khối lượng: 1,1631 gam với giá 400.000 đồng; bán cho Triệu Dào N 01 gói nhựa thuốc phiện có khối lượng: 1,6621 gam với giá 950.000 đồng. Tổng số tiền D thu lợi là 1.350.000 đồng. Số nhựa thuốc phiện còn lại D chưa kịp bán, khi bắt quả tang thu giữ có khối lượng: 0,3697 gam. Piao và N mua thuốc phiện nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hoàng Văn D2 có hành vi giúp sức cho Lý Văn D, chở D đi bán nhựa thuốc phiện cho Triệu Dào N. Khi thực hiện hành vi, các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo Đặng Phụ C1 và Lý Văn D đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251; hành vi của bị cáo Hoàng Văn D2 đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251; hành vi của bị cáo Triệu Dào N và Triệu Kiềm P đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger