Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HS-ST

Ngày 10-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lưu Thị Hồng Thơm - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Minh Đức;

Ông Trần Thế Sự - Nguyên trưởng phòng Tổ chức trường Cao đẳng Kinh tế và Công nghệ thực phẩm;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Bình - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Hoàng Gia S, sinh ngày 16 tháng 01 năm 2008 tại Hải Phòng (khi phạm tội 16 tuổi 11 tháng 01 ngày). Nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Gia H và bà Đỗ Thị H1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27-12-2024; có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Hoàng Gia H, sinh năm 1978 và bà Đỗ Thị H1, sinh năm 1979; nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng (là bố, mẹ đẻ của bị cáo); đều có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đoàn Thị H2 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; địa chỉ: Số A đường L, phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng; có mặt.

Bị hại: Anh Phạm Việt A, sinh năm 2004; nơi ĐKTT: Thôn Đ, xã T, huyện T (nay là phường T, thành phố T) thuộc thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Nhà nghỉ N1, thuộc Khu B, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1979; nơi ĐKTT: Thôn Đ, xã T, huyện T (nay là phường T, thành phố T) thuộc thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Nhà nghỉ N1, thuộc Khu B, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

Những người làm chứng: Anh Hoàng Gia Thế D, anh Nguyễn Thạc N, anh Lưu Đình V; đều vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của anh Hoàng Gia Thế D: Ông Hoàng Gia H3 (là bố đẻ của anh Hoàng Gia T1 Duyệt); vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Thạc N: Bà Lưu Thị L (là mẹ đẻ của anh Nguyễn Thạc N); vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của anh Lưu Đình V: Ông Lưu Đình H4 (là bố đẻ của anh Lưu Đình V); vắng mặt.

Người tham gia tố tụng khác:

Đại diện Trường THPT L1, quận Đ, Hải Phòng: Bà Phạm Thị H5, Giáo viên chủ nhiệm lớp 11B1 là lớp bị cáo Hoàng Gia S đang theo học; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 17-12-2024, Hoàng Gia S cùng Hoàng Gia Thế D, Nguyễn Thạc N và Lưu Đình V hẹn nhau đến khu vực Quảng trường biển thuộc Khu A, phường H, quận Đ chơi trượt ván. Cả nhóm chơi đến khoảng 18 giờ 40 phút cùng ngày thì V rủ S, D, N đi chơi theo đường bờ biển ra Khu 2. Trên đường đi, S một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu ESPERO Biển kiểm soát 15AM-025.45 và D điều khiển xe máy điện nhãn hiệu Vinfast Biển kiểm soát 15MĐ1-546.87 đi trước, V điều khiển xe máy điện nhãn hiệu Vinfast Biển kiểm soát 15MĐ1- 024.29 chở N ngồi sau. Cả nhóm đi qua khu vực nhà nghỉ N1, thuộc Khu B, phường V thì S phát hiện thấy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, Biển kiểm soát 15G1-930.24 có chùm chìa khóa treo ở võng xe của anh Phạm Việt A đang dựng tại lán để xe của nhà nghỉ. S nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô, S đi qua khoảng 10 mét thì dừng xe lại, thấy S dừng lại thì D và V cũng dừng theo. S nói “Thằng nào đi xe xuống bãi biển hộ tao, tao có tý việc, chúng mày cứ đi trước đi, tao đi sau”, thấy S nói thế thì N nói “Để tao đi cho”. S một mình quay lại đi về hướng lán nhà xe của nhà nghỉ N1, đồng thời D, V và N đi xe xuống khu vực bãi biển Đ chơi. S đến gần chiếc xe mô tô quan sát thấy không có người trông coi, rồi đến mở khóa điều khiển xe chạy đến khu vực đường V, phường V, Đ thì dừng lại và dùng tay bẻ Biển kiểm soát, mở cốp xe thấy có 01 Giấy đăng ký xe mô tô Biển kiểm soát 15G1- 930.24 mang tên Phạm Văn T, 01 Căn cước công dân và 01 Giấy phép lái xe mang tên Phạm Việt A, S ném các giấy tờ và B kiểm soát xe xuống biển. S gọi điện thoại cho D nói: “Chúng mày đi về trước đi, tao đi có việc rồi”. N nói “Thế thì mang xe máy của S về trả cho bố mẹ S rồi đi về”. S tiếp tục điều khiển xe mô tô trộm cắp được mang đến giấu ở bụi chuối gần khu vực T, phường H, Đ, rồi gọi điện thoại nhờ D đến đón S về nhà. Trên đường về, S không nói cho D biết việc trộm cắp xe mô tô trên.

Ngày 17-12-2024, anh Phạm Việt A đã đến Công an phường V trình báo sự việc.

Ngày 18-12-2024, Hoàng Gia S đã đến Công an phường V đầu thú và giao nộp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade nêu trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐGTS ngày 27-12-2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận Đ kết luận: “01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu sơn đen, số máy JK14E-0054529, số khung RLHJK1405NZ221174, không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng có giá trị là 30.000.000đồng”.

Vật chứng, tài sản của vụ án:

  • Một xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu sơn đen, số máy JK14E-0054529, số khung RLHJK1405NZ221174, Biển kiểm soát 15G1- 930.24, xe đã qua sử dụng, Cơ quan điều tra trả lại cho ông Phạm Văn T là chủ sở hữu chiếc xe trên.
  • Một Biển kiểm soát 15G1- 930.24; 01 Giấy đăng ký xe mô tô Biển kiểm soát 15G1- 930.24 mang tên Phạm Văn T; 01 Căn cước công dân và 01 Giấy phép lái xe mang tên Phạm Việt A, không thu hồi được.
  • Một xe mô tô Biển kiểm soát 15AM- 025.45, xe đã qua sử dụng, thu giữ của S, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 14-02-2025, Hoàng Gia S đã bồi thường cho bị hại là anh Phạm Việt A số tiền 5.000.000đồng để khắc phục hậu quả. Anh Phạm Việt A không yêu cầu S phải bồi thường gì thêm và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Hoàng Gia S. Ông Phạm Văn T cũng có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Hoàng Gia S.

Tại Cáo trạng số: 08/CT-VKSĐS ngày 19-02-2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng truy tố Hoàng Gia S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đối với Hoàng Gia Thế D, Nguyễn Thạc N và Lưu Đình V: Duyệt, N, V đều không biết việc S trộm cắp tài sản, đồng thời S cũng không nói cho D, N, V biết việc S trộm cắp tài sản là xe mô tô nêu trên, nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với Hoàng Gia Thế D, Nguyễn Thạc N, Lưu Đình V.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự; Điều 12; Điều 118; điểm a khoản 1 Điều 177; khoản 2 Điều 179 Luật số 59/2024/QH15 ngày 30-11-2024 Luật tư pháp người chưa thành niên; Xử phạt: Bị cáo Hoàng Gia S từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Đề nghị không áp dụng việc khấu trừ thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Hoàng Gia S.

Đề nghị hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện hoàn trả chiếc xe mô tô đã trộm cắp và khắc phục thiệt hại cho bị hại số tiền 5.000.000đồng. Bị hại không còn ý kiến nào khác và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Trả lại cho bị cáo Hoàng Gia S 01 xe mô tô Biển kiểm soát 15AM-025.45, số máy VDEJQ139FMB7216619, số khung RPEUCBCPENA216619, xe đã qua sử dụng.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 3 Điều 33 Luật Tư pháp người chưa thành niên; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị: Buộc bị cáo Hoàng Gia S phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên đến ngày xét xử sơ thẩm, bị cáo vẫn là người chưa thành niên nên tiền án phí hình sự sơ thẩm của bị cáo Hoàng Gia S sẽ do người đại diện hợp pháp nộp thay.

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo; Người bào chữa cho bị cáo; Bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo có ý kiến:

Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận về tội danh và điều luật áp dụng với bị cáo như bản cáo trạng đã truy tố. Về các tình tiết giảm nhẹ: đồng tình với quan điểm của Viện kiểm sát, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Người bào chữa cho bị cáo cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến độ tuổi, nhân thân, hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo khi phạm tội mới 16 tuổi 11 tháng 01 ngày, là người chưa thành niên vì vậy nhận thức pháp luật của bị cáo còn nhiều hạn chế, chưa nhận thức đầy đủ được hậu quả của hành vi phạm tội mình gây ra; bị hại cũng có sơ hở, chủ quan trong việc quản lý tài sản dẫn đến bị cáo nhất thời nổi lòng tham mà phạm tội; sau khi trộm cắp tài sản, bị cáo mới chỉ mang đi cất giấu, chưa tiêu thụ, mặt khác ngay ngày hôm sau bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú và trả lại tài sản cho bị hại. Quá trình học tập tại trường bị cáo cũng là học sinh hiền lành, ngoan ngoãn, tham gia tích cực các hoạt động của nhà trường. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án thấp nhất theo mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị và cho bị cáo cơ hội được cải tạo ngoài xã hội để sửa chữa lỗi lầm, làm lại cuộc đời vì suy cho cùng không phải nhà tù mới là nơi duy nhất cải tạo được bị cáo mà với sự đồng hành của gia đình, nhà trường và các đoàn thể xã hội cũng là nơi bị cáo có cơ hội cải tạo để hoàn thiện mình, trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Quan điểm bào chữa của người bào chữa được Hội đồng xét xử ghi nhận, xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị cáo có ý kiến:

Đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo mức án thấp nhất, cho bị cáo có cơ hội được cải tạo ngoài xã hội. Gia đình xin cam đoan giám sát bị cáo chặt chẽ, không để bị cáo tiếp tục phạm tội và dạy dỗ bị cáo, phấn đấu trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Tại phiên tòa, bà Phạm Thị H5 - Giáo viên chủ nhiệm lớp 11B1 trường THPT L1, quận Đ có ý kiến:

Bị cáo Hoàng Gia S trong quá trình học tập tại trường chấp hành tốt nội quy, quy chế của nhà trường, chưa phát hiện vi phạm gì, là học sinh hiền lành, ngoan, ý thức tốt, tích cực tham gia các phong trào của nhà trường. Thay mặt nhà trường đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để có mức án phù hợp, vì bị cáo là người chưa thành niên, nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế, nhất thời phạm tội, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo có cơ hội được cải tạo ngoài xã hội. Nhà trường cam kết sẽ phối kết hợp cùng với gia đình quản lý, giáo dục bị cáo để bị cáo nhận thức được lỗi lầm, phấn đấu trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Gia S thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn đã truy tố là đúng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về tội danh:

[3] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ được, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 17-12-2024, tại khu vực nhà nghỉ N1, thuộc Khu B, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng, Hoàng Gia S đã có hành vi lén lút, chiếm đoạt của anh Phạm Việt A 01 xe mô tô Biển kiểm soát 15G1- 930.24 trị giá 30.000.000 đồng. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết định khung hình phạt: Tài sản bị cáo chiếm đoạt qua định giá là 30.000.000đồng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bởi vậy, cần phải được xử lý thỏa đáng.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Gia S không vi phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại; đầu thú; bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Về hình phạt chính: Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; do sơ hở của chủ tài sản nên bị cáo nhất thời nổi lòng tham mà phạm tội, tại thời điểm phạm tội là người chưa thành niên, bản thân có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu ở Mục [7], có nơi cư trú rõ ràng, có xác nhận của chính quyền địa phương. Do vậy, không cần thiết bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội. Có thể áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo không giam giữ ngoài xã hội, giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình, nhà trường quản lý, giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

[9] Về hình phạt bổ sung: Khi phạm tội bị cáo 16 tuổi 11 tháng 01 ngày nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 6 Điều 12 Luật Tư pháp người chưa thành niên. Không khấu trừ thu nhập của bị cáo theo Khoản 2 Điều 118 Luật Tư pháp người chưa thành niên.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện hoàn trả chiếc xe mô tô đã trộm cắp và khắc phục thiệt hại cho bị hại số tiền 5.000.000đồng. Bị hại không còn ý kiến nào khác và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[11] Từ các phân tích tại các mục [4]; [5]; [6]; [7]; [8] thấy quan điểm của Người bào chữa cho bị cáo đề nghị cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội là có cơ sở chấp nhận.

[12] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ:

01 xe mô tô Biển kiểm soát 15AM-025.45, số máy VDEJQ139FMB7216619, số khung RPEUCBCPENA216619, xe đã qua sử dụng. Xét thấy đây là tài sản cá nhân của bị cáo Hoàng Gia S được bố mẹ mua để làm phương tiện đi lại, bị cáo S không dùng xe này để đi trộm cắp, tại phiên tòa bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo đề nghị được xin lại chiếc xe cho bị cáo có phương tiện đi học. Vì vậy cần trả lại chiếc xe mô tô trên cho bị cáo S.

[13] Về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo Hoàng Gia S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật. Do bị cáo S đến ngày xét xử sơ thẩm vẫn là người chưa thành niên nên án phí của bị cáo S sẽ do người đại diện hợp pháp của bị cáo nộp thay.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo; bị hại; người bào chữa cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự; Điều 12; Điều 118; điểm a khoản 1 Điều 177; khoản 2 Điều 179 Luật số 59/2024/QH15 ngày 30-11-2024 Luật Tư pháp người chưa thành niên;

Tuyên bố bị cáo Hoàng Gia S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Gia S 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nhận được Q định Thi hành án. Giao bị cáo Hoàng Gia S cho Ủy ban nhân dân phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Hoàng Gia S và trường THPT L1, quận Đ có trách nhiệm phối hợp cùng với Ủy ban nhân dân phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Hoàng Gia S.

Không khấu trừ thu nhập của bị cáo Hoàng Gia S.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Hoàng Gia S.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” số 03/2025/QĐ-TA ngày 19-02-2025 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Hoàng Gia S.

Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.

Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.

Việc lao động, học tập của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được thực hiện theo quy định tại Điều 101 Luật Thi hành án hình sự như sau:

“3. Người chấp hành án không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chấp hành án tạo điều kiện tìm việc làm.

5. Người chấp hành án không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành án phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày người chấp hành án được xác định là không có việc làm hoặc bị mất việc làm, Công an cấp xã có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản với Ủy ban nhân dân cùng cấp; trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan Thi hành án hình sự cấp huyện phải xem xét, quyết định buộc người chấp hành án thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng.

Báo cáo của Ủy ban nhân dân cấp xã, quyết định của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải nêu rõ loại công việc, thời gian lao động phục vụ cộng đồng dự kiến buộc người chấp hành án phải thực hiện.

Căn cứ quyết định buộc người chấp hành án phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng, Ủy ban nhân dân cấp xã giao cho người chấp hành án thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng dưới sự giám sát của Công an cấp xã”.

Bị cáo Hoàng Gia S phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 100 Luật Thi hành án hình sự như sau:

“Người chấp hành án có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian chấp hành án, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

Người chấp hành án khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, phường được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, phường phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người chấp hành án khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã, phường nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, phường hoặc Công an cấp xã, phường nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người chấp hành án vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã, phường nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, phường được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

Việc giải quyết trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

Người chấp hành án không được xuất cảnh trong thời gian thử thách”.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện hoàn trả chiếc xe mô tô trộm cắp và khắc phục hậu quả thiệt hại cho bị hại số tiền 5.000.000đồng. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm và không còn yêu cầu, đề nghị nào khác nên vấn đề dân sự các bên đã giải quyết xong, Hội đồng xét xử không giải quyết.

- Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự:

Trả lại cho bị cáo Hoàng Gia S 01 xe mô tô Biển kiểm soát 15AM-025.45, số máy VDEJQ139FMB7216619, số khung RPEUCBCPENA216619, xe đã qua sử dụng.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng với Công an quận Đ, thành phố Hải Phòng).

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 3 Điều 33 Luật Tư pháp người chưa thành niên; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hoàng Gia S phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên đến ngày xét xử sơ thẩm, bị cáo vẫn là người chưa thành niên nên tiền án phí hình sự sơ thẩm của bị cáo Hoàng Gia S sẽ do người đại diện hợp pháp nộp thay.

- Về quyền kháng cáo:

Bị cáo; Người đại diện hợp pháp của bị cáo; Người bào chữa cho bị cáo đều có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP.Hải Phòng;
  • - VKSND TP.Hải Phòng;
  • - PV 06; PC10 Công an TP.Hải Phòng;
  • - CATP Hải Phòng;
  • - VKSND quận Đồ Sơn;
  • - Chi cục THADS quận Đồ Sơn;
  • - UBND phường Hải Sơn;
  • - Trường THPT Lý Thánh Tông;
  • - Bị cáo, Bị hại;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Minh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 06/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger