|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA TỈNH GIA LAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2025/HS-ST
Ngày: 06-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Toàn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Thại và bà Phan Thị Nhàn.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Nay Ha, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Trương Văn Đ, sinh năm 1976 tại T, Quảng Nam; nơi cư trú: Số A Hồ N, tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Q và bà Trần Thị H (đều đã chết); vợ là Hồ Thị Ánh H1; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại Huỳnh Kim H2: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Số A Hồ N, tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Xin vắng mặt có lý do.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn T, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Số A T, phường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Xin vắng mặt có lý do.
- Người làm chứng: Anh Tống Văn V, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Số A T, phường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Xin vắng mặt có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào rạng sáng ngày 15/10/2024, anh Huỳnh Kim H2 (SN: 1974, trú tại: Tổ A, phường H, thành phố T, Quảng Nam) điều khiển xe môtô mang BKS: 92B1-435.61 chở Trương Văn Đ từ tỉnh Quảng Nam đi tỉnh Đăk Lăk để hái cà phê thuê. Đến trưa cùng ngày, cả hai ghé ăn cơm tại quán cơm ở Quốc lộ B thuộc phường C, thị xã A, Gia Lai. Sau khi ăn cơm xong, Đ là người điều khiển xe môtô nói trên chở H2 đi qua đường T theo hướng từ thị xã A, Gia Lai đi tỉnh Đắk Lắk.
Đến khoảng 12giờ20' cùng ngày, khi đi đến đoạn Km 03 Tỉnh lộ 668 thuộc buôn H, xã C, thị xã A, Gia Lai, Đ thấy xe ôtô tải mang BKS: TH-83-28 do Trung úy Trần Văn T (SN: 1997), đơn vị công tác: Đại đội 7, Lữ đoàn 683, Cục V1, T1, Bộ Q1 điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước. Lúc này Đ muốn vượt nên tăng ga điều khiển xe môtô vượt lên bên phải đi song song với xe ôtô tải mang BKS: TH-83-28. Khi đến đoạn trước kho nông sản Q thì Đ thấy không vượt được vì đường hẹp nên phanh gấp xe dẫn đến xe môtô mang BKS: 92B1-435.61 ngã nghiêng bên trái. Hậu quả, Đ và xe môtô trượt ra lề phải đường Tỉnh lộ 668, anh Huỳnh Kim H2 ngồi sau xe môtô ngã ra đường và bị bánh xe ngoài cùng của trục thứ ba bên phải xe ôtô BKS: TH-83-28 (theo hướng từ đầu xe đến đuôi xe) chèn qua người tử vong tại chỗ, Đ bị thương tích nhẹ, xe môtô BKS: 92B1-435.61 bị hư hỏng. Sau tai nạn, tiến hành đo nồng độ cồn Trương Văn Đ và Trần Văn T cho kết quả: 0,00 mg/L. Test nhanh với ma túy Trương Văn Đ và Trần Văn T cho kết quả: Âm tính với ma túy.
Khám nghiệm hiện trường xác định:
Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn được làm bằng bê tông xi măng, mặt đường bằng phẳng rộng 5,6m. Lề đường hai bên được đổ bằng đá cấp phối bề mặt lởm chởm không đồng nhất. Theo hướng trung tâm thị xã A đi xã C, thị xã A lề bên phải rộng 2,2m, lề bên trái rộng 1,25m. Tại hiện trường đoạn xảy ra tai nạn không có biển báo hiệu, cọc tiêu nào vì đoạn đường trên đang thi công chưa hoàn thiện. Trong quá trình khám nghiệm tất cả các vị trí, dấu vết, phương tiện được đo vào mép đường bên phải đường tỉnh lộ 668 theo hướng trung tâm thị xã A đi xã C, thị xã A. Lấy đơn vị đo là mét (m); Lấy trụ điện số 473 APA 8/31A tại lề đường bên trái làm điểm mốc cố định hiện trường.
Ghi nhận việc đánh số tự nhiên, vị trí phương tiện, tang vật, dấu vết tại hiện trường, cụ thể: (1) Vết trượt lốp; (2) Tổ hợp vết cày đứt đoạn; (3) Vết trượt bám dính chất màu nâu đỏ; (4) Tử thi; (5) Xe môtô mang biển kiểm soát: 92B1 - 435.61; (6) Vết in vân lốp màu nâu đỏ; (7) Xe ôtô mang biển kiểm soát TH 83 - 28.
- - (1) Vết trượt lốp có chiều hướng từ trung tâm thị xã A đi xã C nằm trên mặt đường có kích thước (4,32 x 0,06)m. Đầu vết (1) cách mép chuẩn 0,31m và cách điểm mốc 15,7m. Đuôi vết (1) kết thúc tại mép chuẩn.
- - (2) Tổ hợp vết cày đứt đọan nằm trên mặt đường bê tông và lề đất cấp phối bên phải, có chiều hướng từ trung tâm thị xã A đi xã C, vết (2) có kích thước (5,63x0,31x0,005)m. Đuôi vết (1) cách đầu vết (2) 0,64m. Đầu vết (2) cách mép chuẩn 0,13m, đuôi vết (2) kết thúc tại gác để chân sau bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 92B1 - 435.61, nằm trên lề phải và cách mép chuẩn 0,51m.
- - (3) Vết trượt bám dính chất màu nâu đỏ nằm trên mặt đường có chiều hướng từ trung tâm thị xã A đi xã C, vết (3) có kích thước (1,36 x 0,015)m. Đầu vết (3) cách đuôi vết (2) 3,42m và cách mép chuẩn 0,86m. Đuôi vết (3) cách mép chuẩn 0,79m.
- - (4) Tử thi nằm trên mặt đường, tử thi là nam giới trong tư thế nằm sấp, chiều dài tử thi là 1,64m, mặt tử thi hướng về mép chuẩn, đầu tử thi hướng về xã C, hai chân duỗi thẳng hướng về trung tâm thị xã A. Gót chân phải tử thi cách đuôi vết (3) 0,84m, cách mép chuẩn 0,94m. Đầu tử thi cách mép chuẩn 1,36m.
- - (5) Xe môtô mang biển kiểm soát: 92B1 - 435.61 nằm lề đường bên phải, xe môtô ngã nghiêng bên trái, đuôi xe hướng vào mép chuẩn. Trục sau xe mô tô cách mép chuẩn 0,41m và cách gót chân phải của tử thi (4) 1,41m. Trục trước xe môtô (5) cách mép chuẩn 1,63m.
- - (6) Vết in vân lốp màu nâu đỏ đứt đoạn nằm trên đường. Vết (6) có kích thước (16,7 x 0,24)m. Đầu vết (6) cách mép chuẩn 1,03m và cách trục sau xe mô tô (5) 4,59m. Đuôi vết (6) kết thúc tại mặt dưới lốp xe ngoài cùng bên của trục thứ 3 xe ôtô.
- - (7) Xe ôtô tải biển kiểm soát TH 83 - 28 đậu trên mặt đường, đầu xe hướng về xã C, đuôi xe hướng về trung tâm thị xã A. Mặt ngoài bên phải của bánh xe ở trục thứ 1 xe cách mép chuẩn 1,17m. Mặt ngoài bên phải bánh xe trục thứ 3 xe cách mép chuẩn 1,28m và cách đầu tử thi (4) 20,09m.
Điểm mốc cố định hiện trường (trụ điện số 473 APA H ) cách đầu vết (1) là 15,7m.
Kết quả khám nghiệm tử thi:
- Các dấu vết tổn thương trên cơ thể:
+ Phần đầu, mặt: Dập nát biến dạng, không nhận dạng được khuôn mặt; Da đầu tóc bết máu, dính tổ chức nhu mô não; Từ vùng cổ trước kéo dài xuống ngực bụng, rãnh delta ngực cánh tay trái có nhiều vết xây xát da, rách da trong diện (50 x 40)cm; Phần ngực biến dạng, sờ nắn xương đòn hai bên, xương ức, các xương sườn ghi nhận lạo xạo xương. Da vùng lưng có nhiều vết xây xát da, bầm tím da và hai mông có nhiều vết xây xát da trong diện (70x30)cm. Tay phải tại 1/3 giữa mặt ngoài cẳng tay có vết tuột da trong diện (5x4)cm; mu bàn tay có vết xây xát da trong diện (7x5)cm; Tay trái từ 1/3 cánh tay kéo dài xuống mu bàn ngón tay có nhiều vết xây xát da, mài da, bầm tím da, rách da trong diện (45x10)cm (mặt trước sau); Chân phải không phát hiện dấu vết tổn thương; chân trái tại mặt trước khớp gối có vết xây xát da, rách da trong diện (6x5)cm, khung chậu vững, bộ phận sinh dục không tổn thương, hậu môn khô. Hai tay, hai chân sờ nắn không phát hiện tổn thương.
+ Mổ tử thi (giải phẫu vùng đầu): Mô cơ dưới da bầm tụ máu, xương hộp sọ vỡ nát phức tạp; nền sọ và xương gò má hai bên, xương hàm gãy vỡ phức tạp; nhu mô hai bên cầu đại não dập nát, vết giải phẫu được khâu lại.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 944/KLGĐTT-KTHS ngày 22/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh G kết luận: Nguyên nhân tử vong của Huỳnh Kim H2 là do Chấn thương sọ não.
Kết quả khám xe ôtô tải mang BKS: TH-83-28, nhãn hiệu HYUNDAI HD260, số khung: C104991, số máy: J347616.
Tại mặt ngoài bánh ngoài cùng bên phụ của trục thứ 2 (bên ghế phụ của xe) phát hiện hai (02) vết in lốp song song với nhau có đặc điểm: Vết (1) có kích thước (0,19 x 0,02)m, không rõ chiều hướng. Đầu vết cách chân van xả hơi của lốp 0,25m, cách mép niềng của bánh xe theo hướng vuông góc là 0,08m. Đuôi vết cách chân van xả hơi của lốp 0,32m, cách mép niềng của bánh xe theo hướng vuông góc là 0,09m; Vết (2) có kích thước (0,21 x 0,02)m, không rõ chiều hướng. Đầu vết cách van xả hơi của lốp 0,28m, trùng với mép niềng của bánh xe. Đuôi vết cách van xả hơi của lốp 0,47m, đuôi vết cách mép niềng của bánh xe theo hướng vuông góc là 0,08m; Tại mặt lăn của bánh ngồi bên phụ trục thứ 3 xe phát hiện bám dính đám chất màu nâu đỏ (nghi là máu), nhu mô não có kích thước (0,23 x 0,82)m. Đầu vết cách chân van xả hơi của lốp 0,59m. Đuôi vết cách chân van xả hơi của lốp 0,79m; Mặt dưới của vè chắn bùn sau, bên phụ của trục thứ 3 xe có bám dính chất màu nâu đỏ (nghi là máu), nhu mô não có kích thước (0,56 x 1,22)m; Tại mặt trước của cản sau bên phụ (hướng từ đầu xe xuống đuôi xe) phát hiện đám chất màu nâu đỏ (nghi là máu), nhu mô não có kích thước (0,13 x 0,07)m.
- Ngày 18/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã A ra Quyết định trưng cầu giám định số 270/QĐ-CSĐT, trưng cầu Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng giám định điều kiện an toàn kỹ thuật đối với xe ô tô tải BKS: TH-83-28. Ngày 30/10/2024, Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng ra Kết luận giám định số 2349/KL-KTHS, kết luận:
+ Hệ thống phanh và hệ thống lái của xe ô tô tải BKS: TH-83-28 còn hoạt động và thỏa mãn tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật.
+ Hệ thống còi và đèn tín hiệu của xe ô tô tải BKS: TH-83-28 hoạt động bình thường.
Kết quả khám xe môtô mang BKS: 92B1-435.61 nhãn hiệu HONDA, loại AIR BLADE, số máy: JF63E-2638344; số khung: RLH9F6325KZ197880.
Mặt kính gương chiếu hậu bên trái bị bể vỡ kích thước (0,025 x 0,06)m; Mặt ngoài phía trước của khung kim loại gương chiếu hậu bên trái có bám dính bùn đất, trầy xước kim loại lộ ánh kim có chiều hướng từ phải qua trái, từ trước ra sau, kích thước (0,012 x 0,025)m; Mặt ngoài đầu núm tay thắng bên trái trầy xước kim loại lộ ánh kim có chiều hướng từ phải qua trái, kích thước (0,018 x 0,02)m; Ốp đầu trước bên trái trầy xước nhựa, bám dính bùn đất, có chiều hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái, kích thước (0,095 x 0,07)m; Mặt ngoài phía trước đầu tay lái bên trái trầy xước mất nhựa có chiều hướng từ phải qua trái, kích thước (0,02 x 0,01)m; Yếm xe bên trái trầy xước nhựa có chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (0,42 x 0,29)m; Tại mặt ngoài phía trước bên trái của lốp xe phía trước bị mài mòn cao su có chiều hướng từ trái qua phải, từ dưới lên trên (từ mép lốp ra tâm lốp), kích thước (0,22 x 0,03)m. Đầu vết cách chữ N của dòng chữ NYLON (0,02)m. Đuôi vết cách chữ N của dòng chữ NYLON (0,14)m; Mặt ngoài gác để chân trước bên trái bị trầy xước, bể nhựa, bám dính chất bùn đất, có chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (0,32 x 0,04)m; Mặt ngoài tay nâng sau bên trái trầy xước nhựa có chiều hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, kích thước (0,04 x 0,01)m; Cụm gác để chân sau bên trái bị trầy xước nhựa, trầy xước kim loại lộ ánh kim, không rõ chiều hướng, bám dính bùn đất, kích thước (0,13 x 0,14)m; Mặt ngoài ốp lọc gió bên trái trầy xước nhựa, có chiều hướng từ trước ra sau, từ trên xướng dưới, kích thước (0,075 x 0,02)m; Mặt ngoài phía trước bên trái của chân chống giữa phát hiện vết trầy xước kim loại lộ ánh kim, có chiều hướng từ dưới lên (trong trang thái dựng chân chống giữa), kích thước (0,09 x 0,01)m.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 19/KL-HĐĐGTS ngày 10/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã A kết luận giá trị tài sản thiệt hại của xe môtô mang BKS: 92B1-435.61 nhãn hiệu HONDA, loại AIR BLADE (số máy: JF63E-2638344; số khung: RLH9F6325KZ197880) là 1.560.000 đồng (Một triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng).
- Ngày 16/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã A ra Quyết định trưng cầu giám định số 269/QĐ-CSĐT, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh G giám định dấu vết va chạm giữa ôtô tải BKS: TH-83-28 và xe môtô BKS: 92B1-435.61. Ngày 28/10/2024, Phòng K Công an tỉnh G ra Kết luận giám định số 955/KL-KTHS, kết luận: Qua kiểm tra các dấu vết trên ôtô tải BKS: TH-83-28 và xe môtô BKS: 92B1-435.61: Không phát hiện dấu vết va chạm giữa hai xe.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số [...], mang tên Trương Văn Đ, do Sở giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 25/02/2019 (kèm theo hồ sơ vụ án).
- - 01 (một) xe môtô mang BKS: 92B1-435.61 nhãn hiệu HONDA, loại AIR BLADE, số máy: JF63E-2638344; số khung: RLH9F6325KZ197880. Qúa trình điều tra xác định xe môtô trên do Nguyễn Thị B (SN: 1976, trú tại: A Hồ N, phường H, TP ., Quảng Nam, là vợ bị hại Huỳnh Kim H2) là chủ sở hữu hợp pháp. Ngày 20/11/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã trả lại cho bà Nguyễn Thị B.
- - 01 (một) xe ô tô tải mang BKS: TH-83-28, nhãn hiệu HYUNDAI HD260, số khung: C104991, số máy: J347616; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới số 2446109 do Bộ Q1 cấp ngày 31/5/2024; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký số 4379 do Cục X, Bộ Q1 cấp ngày 07/9/2020. Qúa trình điều tra xác định các vật chứng nêu trên thuộc sở hữu hợp pháp của Lữ đoàn 683, Cục V1, T1, Bộ Q1. Ngày 08/11/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã trả lại cho người đại diện là Thượng tá Nguyễn Trọng M – Phó Lữ đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Lữ Đoàn 683 Cục vận tải, T1, Bộ Q1.
- - 01 (một) Giấy phép lái xe số [...] do Cục X, Bộ Q1 cấp ngày 29/12/2017 mang tên anh Trần Văn T (SN: 1997, trú tại: Tổ H, phường H, Quận L, TP.). Ngày 08/11/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã trả lại cho anh Trần Văn T.
- - 01 (một) USB màu trắng, nhãn hiệu Kingston, loại 2Gb lắp đạt tại Camera an ninh của Công an thị xã A trên đường T thuộc Bôn Hoai, xã C, thị xã A. Bên trong USB lưu trữ 05 đoạn video có nội dung liên quan đến vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 15/10/2024 (Kèm theo hồ sơ vụ án).
- - 01 (một) USB màu đen, nhãn hiệu Lexar, loại 32Gb lắp đạt tại Camera an ninh của nhà kho mì Qúy Thọ trên Tỉnh lộ 668 thuộc Bôn Hoai, xã C, thị xã A. Bên trong USB lưu trữ 02 đoạn video có nội dung liên quan đến vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 15/10/2024 (Kèm theo hồ sơ vụ án).
Về trách nhiệm dân sự:
Người đại diện hợp pháp của nạn nhân Huỳnh Kim H2 là chị Nguyễn Thị B không yêu cầu bồi thường về dân sự và thiệt hại về xe môtô. Bị can Trương Văn Đ tự nguyện bồi thường số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) và chi phí sửa chữa xe môtô mang biển kiểm soát 92B1-435.61 cho chị B.
Tại Cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Trương Văn Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trương Văn Đ về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Văn Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách gấp đôi mức hình phạt và giao bị cáo về cho chính quyền địa phương nơi bị cáo đang thường trú giám sát, giáo dục.
Về trách nhiệm dân sự: Đã được thỏa thuận giải quyết xong.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị trả lại cho bị cáo Trương Văn Đ 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng A1 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 25/02/2019.
Đối với 01 USB màu đen, nhãn hiệu Lexar, loại 32Gb lắp đạt tại Camera an ninh của nhà kho mì Qúy Thọ trên Tỉnh lộ 668 thuộc B, xã C, thị xã A bên trong lưu trữ 02 đoạn video và 01 (một) USB màu trắng, nhãn hiệu Kingston, loại 2Gb lắp đạt tại Camera an ninh của Công an thị xã A trên đường T thuộc Bôn Hoai, xã C, thị xã A bên trong lưu trữ 05 đoạn video đều có nội dung liên quan đến vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 15/10/2024 là tài liệu đi kèm theo hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Trương Văn Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người liên quan, người làm chứng; phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Bị cáo Trương Văn Đ có giấy phép lái xe theo quy định. Vào khoảng 12 giờ 20 phút ngày 15/10/2024 tại đoạn Km 03, Tỉnh lộ 668 thuộc bôn H, xã C, thị xã A, tỉnh Gia Lai, bị cáo điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 92B1 – 435.61 chở theo sau là anh Huỳnh Kim H2 vượt bên phải xe ô tô tải BKS: TH-83-28 do anh Trần Văn T điều khiển đi cùng chiều phía trước. Khi xe mô tô bị cáo điều khiển đã vượt lên song song với xe tải thì bị cáo thấy đường phía trước hẹp nên đã phanh gấp dẫn đến làm ngã xe của bị cáo đang điều khiển. Anh H2 ngồi phía sau xe ngã ra đường bị trục sau xe ô tô BKS: TH-83-28 chèn qua người và tử vong tại chỗ. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy tắc khi tham gia giao thông đường bộ; bị cáo đã vi phạm quy định của luật giao thông đường bộ khi về “vượt xe” quy định Điều 14 Luật Giao thông đường bộ năm 2008. Hành vi vi phạm của bị cáo đã gây ra hậu quả làm chết một người. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi vô ý vì cẩu thả. Hậu quả của vụ tại nạn này hoàn toàn do lỗi của bị cáo. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu. Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào. Từ giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải. Đại diện gia đình bị hại đã thông cảm, không yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng bị cáo vẫn tự nguyện và tích cực bồi thường thiệt hại bằng tiền và sửa chữa chiếc xe mô tô của gia đình bị hại bị hư hỏng. Đại diện gia đình bị hại đã có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, cần áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo khi quyết định mức hình phạt.
Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy rằng đề nghị của Viện kiểm sát về việc xử phạt tù có thời hạn nhưng cho bị cáo hưởng án treo đối với bị cáo là thỏa đáng nên có thể xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo và giao về cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[3] Đối với anh Trần Văn T điều khiển xe ôtô tải BKS: TH-83-28 có giấy phép lái xe theo quy định, quá trình tham gia giao thông tuân thủ đúng Luật giao thông đường bộ nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Đã được thỏa thuận bồi thường xong. Đại diện hợp pháp của bị hại không còn yêu cầu gì khác nên HĐXX không xét.
[5] Về xử lý vật chứng: Các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn đã được giải quyết xong tại giai đoạn điều tra, việc xử lý là đúng pháp luật nên HĐXX không xem xét. Trong vụ án này, bị cáo không bị cấm hành nghề lái xe theo quy định tại khoản 5 Điều 260 BLHS nên xem xét trả lại cho bị cáo 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng A1 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 25/02/2019.
Đối với 01 USB màu đen, nhãn hiệu Lexar, loại 32Gb lắp đạt tại Camera an ninh của nhà kho mì Qúy Thọ trên Tỉnh lộ 668 thuộc B, xã C, thị xã A bên trong lưu trữ 02 đoạn video và 01 (một) USB màu trắng, nhãn hiệu Kingston, loại 2Gb lắp đạt tại Camera an ninh của Công an thị xã A trên đường T thuộc Bôn Hoai, xã C, thị xã A bên trong lưu trữ 05 đoạn video đều có nội dung liên quan đến vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 15/10/2024 là chứng cứ cần lưu trữ tại hồ sơ vụ án.
[6] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an thị xã A và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trương Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên xử:
Phạt bị cáo Trương Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 06/3/2025.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại ngay cho bị cáo Trương Văn Đ 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng A1 số [...], đứng tên Trương Văn Đ do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 25/02/2019.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, 24 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Trương Văn Đ phải nộp 200.000 đồng án phí HSST để sung quỹ Nhà nước.
- Quyền kháng cáo:
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 06/3/2025 đối với những người có mặt tại phiên tòa; thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày trích lục bản án được tống đạt hợp lệ đối với những người vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo toàn bộ bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo đối với phần bản án liên quan đến bản thân mình.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
|
Nơi nhận: - VKSND thị xã Ayun Pa; - CQ. CSĐT Công an TX. Ayun Pa; - CQ.THA HS Công an TX. Ayun Pa; - Chi cục THA DS TX. Ayun Pa; - Bị cáo và những người TGTT khác ; - Lưu HSVA. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Văn Toàn |
Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)
- Số bản án: 06/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Văn Đ phạm tội
