Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN YÊN

TỈNH YÊNBÁI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HS-ST

Ngày 06-03-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Quang S.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Bích H.

Ông Phạm Thanh Châu G.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng H – Thẩm tra Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Y.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Y tham gia phiên tòa: Ông Lương Xuân T - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Y mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/TLHS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 21/02/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn Q, sinh ngày 08/8/1988 tại huyện V, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú tại: Khu A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa.

Tạm trú tại: Thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 04/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Con ông: Lê Văn T, sinh năm 1960; con bà Trương Thị T1, sinh năm 1964.

Có vợ là Phạm Thị T2, sinh năm 1990 đã ly hôn. Hiện sống chung như vợ chồng với chị Đặng Thị D, sinh năm 1988; bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2020.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 06/5/2022 bị Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh L xử phạt 02 năm 05 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2022/HS-ST.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/9/2024 đến ngày 23/9/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Y theo Quyết định tạm giam số 16/2025/HSST-QĐTG ngày 14/02/2025 của Chánh án Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Y. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Nguyễn Khắc S, sinh năm 1967. Vắng mặt
  • Trú quán: Thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái.
  • + Anh Phùng Văn T3, sinh năm 1986. Vắng mặt
  • Trú quán: Thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái.
  • - Người làm chứng: Anh Phùng Văn L, sinh năm 1993. Vắng mặt
  • Trú quán: Thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái.
  • - Người chứng kiến: Chị Đặng Thi N, sinh năm 1989. Vắng mặt
  • Trú quán: Thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nôi dung vụ án được tóm tắt như sau: Lê Văn Q là người nghiện chất ma túy với mục đích mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời nên khoảng 08 giờ ngày 20/9/2024, Lê Văn Q đi xe mô tô từ nhà tại thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái đến khu vực gần Đền C1 thuộc xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai mục đích tìm mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Tại đây Q gặp một người đàn ông làm nghề chở xe ôm không biết tên, tuổi địa chỉ, Q hỏi: “Anh có biết chỗ nào có hàng không mua giúp em hai triệu” (Hàng là ma túy loại Heroine), người này bảo Q: “Đưa tiền anh mua hộ cho”. Q đưa cho người này số tiền 2.000.000 đồng, người đàn ông cầm tiền đi khoảng 01 tiếng sau thì quay lại đưa cho Q một gói nilon màu xanh trong chứa ma túy, Q giấu gói ma túy trên người rồi đi về nhà. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày khi mọi người đi vắng hết, Q mang gói ma túy xuống bếp dùng dao lam chia nhỏ thành nhiều phần để trên bề mặt quyển vở. Trong lúc Q đang chia ma túy thì Nguyễn Khắc S - sinh năm 1967, trú tại thôn N, xã C đến hỏi mua ma túy, S đưa cho Q 200.000 đồng, Q nhận tiền rồi đi vào trong bếp lấy một cục ma túy gói lại vào mảnh giấy trắng có dòng kẻ rồi cầm ra ngoài cửa đưa cho S. Khi S vừa cầm gói ma túy cất vào túi quần, thì bị Tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự, Kinh tế, Ma túy Công an huyện V phối hợp cùng Công an xã, Ủy ban nhân dân xã C, huyện V phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tại túi quần bên trái S đang mặc 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, mở ra bên trong có chất bột nén màu trắng (S khai là ma túy vừa mua của Q). T4 tại túi quần phía trước bên trái Q đang mặc có 1.600.000 đồng (Q khai trong số tiền nêu trên có 200.000 đồng vừa bán ma túy cho S). Thu giữ trên nền bếp có 01 gói nilon màu xanh lá cây, mở ra bên trong có 04 gói nilon màu xanh dương, mở các gói ra bên trong đều chứa chất bột nén màu trắng; trên mặt bìa vở học sinh có nhiều cục chất bột nén màu trắng (nghi là ma túy loại Heroine). Ngoài ra còn thu giữ 01 lưỡi dao lam loại dao cạo râu; 03 mảnh giấy nilon màu xanh dương; 12 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ kích thước 2cm x 3cm. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định (bút lục số: 07 - 10).

Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở, địa điểm, đồ vật, phương tiện đối với Lê Văn Q tại thôn N, xã C, huyện V. Kết quả khám xét: Thu giữ tại phòng ngủ của Q 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu INFINIX (bút lục số: 12 - 13).

Quá trình điều tra Lê Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Ngoài ra Q còn khai nhận: Trước đó, vào khoảng 09 giờ ngày 09/9/2024 Q đi từ nhà đến khu vực Đền C1 thuộc xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai mục đích tìm mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Tại đây Q gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi địa chỉ ở gần cổng Đ, Q hỏi chỗ bán ma túy loại Heroine, thì người này bảo Q: “Đưa tiền đây tao đi mua cho”. Q đưa cho người này 1.000.000 đồng, người đàn ông cầm tiền đi khoảng 01 tiếng sau thì quay lại đưa cho Q một gói nilon màu xanh trong chứa ma túy, Q giấu gói ma túy vào túi quần rồi đi về nhà, sau đó mang gói ma túy xuống bếp dùng dao lam chia nhỏ thành 12 phần và gói lại vào các mảnh giấy trắng có dòng kẻ cất giấu để sử dụng và bán kiếm lời. Từ ngày 09/9/2024 đến ngày 19/9/2024 Q sử dụng và nhiều lần bán ma túy cho Phùng Văn T3 và Nguyễn Khắc S, cụ thể như sau:

  • - Lần thứ nhất: Tối ngày 15/9/2024 T3 bảo Q bán cho T3 một gói ma túy với giá 200.000 đồng, do Q còn nợ Phùng Văn T3 300.000 đồng tiền công phát cỏ nương nên trừ vào tiền công làm nương, Q đồng ý và lấy 01 gói ma túy đưa cho T3. Trên đường về nhà T3 mang gói ma túy ra khu vực ven đường vắng người qua lại sử dụng bằng hình thức hít qua giấy bạc.
  • - Lần thứ hai: Khoảng 18 giờ ngày 18/9/2024, Nguyễn Khắc S đến nhà Q mua của Q một gói ma túy với giá 150.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, S mang ma túy về nhà sử dụng hết.
  • - Lần thứ ba: Khoảng 15 giờ ngày 19/9/2024 Phùng Văn T3 nhờ Phùng Văn L - sinh năm 1993 (ở cùng thôn với T3) chở đến nhà Q. Đến nơi, L đứng ngoài hút thuốc, còn T3 đi vào trong nhà gặp Q hỏi mua 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng, Q hỏi tiền đâu thì T3 nói hôm trước còn 100.000 đồng tiền công, hôm nay cho nợ lại 100.000 đồng. Q đồng ý và lấy ma túy đưa cho T3. Số ma túy này, T3 đã mang về nhà sử dụng hết bằng hình thức hít qua giấy bạc.

Tại Cơ quan điều tra, Phùng Văn T3 và Nguyễn Khắc S đều thừa nhận hành vi mua ma túy của Lê Văn Q để sử dụng như Q đã khai.

Ngoài ra, Q còn khai nhận đã bán ma túy cho Hoàng Văn T5 - sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã C; Đặng Văn C - sinh năm 1990, trú tại thôn N, xã C và một số đối tượng nghiện khác không xác định được tên, tuổi, địa chỉ. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, triệu tập T5 và C đến làm việc, nhưng cả hai đều vắng mặt tại địa phương, ngoài lời khai của Q thì không còn tài liệu chứng cứ chứng minh. Nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý đối với Q về những lần bán trái phép chất ma túy này.

Bản Kết luận giám định số 570B/KL-KTHS ngày 27/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Y kết luận:

  • * “Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang có Lê Văn Q tổng khối lượng là 1,45 gam (Một phẩy bốn mươi lăm gam).
  • - 0,1 gam trích từ 1,45 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.
  • * Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Khắc S có khối lượng là 0,02 gam (Không phẩy không hai gam).
  • - 0,02 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine.” (bút lục số: 21 - 22).

Bản Kết luận giám định số 567/KL-KTHS ngày 26/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Y kết luận:

“01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000đ; 05 (năm) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000đ; 02 (hai) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000đ gửi giám định đều là tiền thật.” (bút lục số: 26).

Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKS-VY ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Y đã truy tố Lê Văn Q về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát huyện V, tỉnh Yên Bái giữ nguyên quyết định truy tố; qua phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội; phân tích nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Văn Q phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s,r khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 9 năm 6 tháng đến 10 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Q. Đồng thời xử lý vật chứng như sau: Tịch thu và tiêu hủy 1,35 gam ma tuý niêm phong trong 01 phong bì; 01 lưỡi dao lam cũ đang qua sử dụng; 03 mảnh nilon màu xanh; 12 mảnh giấy trắng có dòng kẻ; 03 vỏ phòng bì; Tịch thu của bị cáo Q số tiền 200.000 đồng, truy thu của Q số tiền 450.000 đồng là tiền do phạm tội mà có; trả lại cho bị cáo Q số tiền 1.400.000 đồng; trả lại cho bị cáo Q 01 điện thoại di động loại INFINIX màu xanh. Buộc bị cáo Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Đồng thời tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có tranh luận gì chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt ở mức thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện V: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp bản kiểm điểm, bản khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của anh Nguyễn Khắc S, anh Phùng Văn T3 và đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Lê Văn Q là người nghiện chất ma túy, Q biết bán ma túy có lợi nhuận cao nên ngày 09/9/2024 và ngày 20/9/2024 Q từ nhà đi lên khu vực Đền C1 thuộc địa phận xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai mua của hai người đàn ông làm nghề xe ôm không quen biết 02 gói ma túy, loại Heroine với tổng số tiền là 3.000.000 đồng mang về chia nhỏ, cất giấu để sử dụng và bán kiếm lời. Tối ngày 15/9/2024 Q bán cho Phùng Văn T3 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng; khoảng 18 giờ ngày 18/9/2024 Q bán cho Nguyễn Khắc S 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng; khoảng 15 giờ ngày 19/9/2024 Q bán cho Phùng Văn T3 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng; khoảng 18 giờ ngày 20/9/2024 Q bán cho Nguyễn Khắc S 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Các lần bán ma tuý cho T3 và S đều diễn ra tại nhà của Q. Ngoài ra Q còn cất giấu 1,45gam Heroine với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Hành vi nêu trên của Lê Văn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy với tình tiết tăng nặng định khung là “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố đối với bị cáo Lê Văn Q là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, hành vi đó là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Từ hành vi này không những là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, nhiều loại tội phạm khác mà còn gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục riêng và đấu tranh, phòng ngừa chung trong tình hình tội phạm về ma túy đang diễn biến phức tạp trên địa bàn huyện V, tỉnh Yên Bái.

[4] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, xét nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Lê Văn Q là người nghiện chất ma túy, Q có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rất rõ việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Nhưng vì thỏa mãn cơn nghiện của bản thân và muốn kiếm tiền từ ma túy nên Q vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Lê Văn Q là người có nhân thân xấu, bản thân có 01 tiền án, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2022/HS-ST ngày 06/5/2022 Lê Văn Q bị Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh L xử phạt 02 năm 05 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh, có hình phạt nghiêm khắc đối với Lê Văn Q. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt có xem xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; quá trình điều tra bị cáo đã tự khai ra các lần bán ma tuý trước đó cho T3 và S nên được coi là tự thú. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s,r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với hành vi bán ma tuý cho Hoàng Văn T5, Đặng Văn C và một số đối tượng nghiện khác. Quá trình điều tra đã tiến hành xác minh, triệu tập nhưng cả T5 và C hiện không có mặt tại địa phương, ngoài lời khai của Q không có chứng cứ nào khác để chứng minh nên không đủ cơ sở để xem xét xử lý đối với Lê Văn Q về các hành vi này. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trong vụ án này là phù hợp.

[5] Xét thấy Lê Văn Q là người nghiện chất ma túy, bị cáo Q không có việc làm, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với Lê Văn Q theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[6] Đối với Nguyễn Khắc S và Phùng Văn T3 là các đối tượng nghiện chất ma túy, T3, S nhiều lần mua ma túy của Q về để sử dụng cho bản thân, thực tế T3 và S đã sử dụng hết số ma túy mua được. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T3 và S chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Yên Bái đã ra quyết định xử phạt hành chính số 01/QĐ-XPHC ngày 14/01/2025 đối với S và quyết định số 02/QĐ-XPHC ngày 14/01/2025 đối với T3 về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và thông báo cho gia đình, chính quyền địa phương biết để quản lý, giáo dục là phù hợp.

Đối với hai người đàn ông đã bán ma túy cho Lê Văn Q tại khu vực Đền C1, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Nên Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để điều tra, xử lý trong vụ án này.

Đối với Phùng Văn L là người chở T3 đến nhà Q để T3 mua ma túy vào ngày 19/9/2024. Do L không biết mục đích của T3 nhờ L chở đi mua ma túy, L không góp tiền và không tham gia vào việc mua bán ma túy cùng T3 và Q, nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với L là phù hợp.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, căn cứ vào điểm a,b,c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, các vật chứng được xử lý như sau:

  • - Đối với 01 điện thoại di động loại INFINIX thu giữ của Lê Văn Q. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của Q không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Q.
  • - Đối với 1,35 gam ma tuý niêm phong trong 01 phong bì; 01 lưỡi dao lam cũ đã qua sử dụng; 03 mảnh nilon màu xanh; 12 mảnh giấy trắng có dòng kẻ; 03 vỏ phòng bì là vật cấm lưu hành và vật không còn giá trị nên tịch thu tiêu huỷ.
  • - Bị cáo Q đã nhiều lần bán ma tuý cho T3 và S, trong đó ngày 20/9/2025 bán cho S thu được 200.000 đồng trong tổng số 1.600.000 đồng cơ quan điều tra thu giữ. Trước đó Q còn bán ma tuý cho T3 và S thu được tổng số 450.000 đồng. Đây xác định là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu và truy thu để sung quỹ Nhà nước.
  • - Số tiền còn lại là 1.400.000 đồng thu giữ của Q: Đây là tài sản của Q, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Q nhưng được giữ lại để đảm bảo thi hành án.

( Các vật chứng nêu trên được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 10 giờ 00 phút ngày 28/02/2025 của Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Y).

[8] Do bị cáo phạm tội, bị xử phạt nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s,r khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn Q 09 (Chín) năm 06 (S1) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/9/2024.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a,b,c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước của Lê Văn Q số tiền 200.000 đồng; truy thu nộp ngân sách Nhà nước đối với Lê Văn Q số tiền 450.000 đồng.
    • - Trả lại cho Lê Văn Q 01 điện thoại di động hiệu INFINIX; trả lại cho Q số tiền 1.400.000 đồng nhưng được tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.
    • - Tịch thu, tiêu hủy: 1,35 gam ma tuý niêm phong trong 01 phong bì; 01 lưỡi dao lam cũ đã qua sử dụng; 03 mảnh nilon màu xanh; 12 mảnh giấy trắng có dòng kẻ; 03 vỏ phòng bì.

    ( Các vật chứng nêu trên được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 10 giờ 00 phút ngày 28/02/2025 của Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Y).

  4. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lê Văn Q phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6 ,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Y;
  • - VKSND tỉnh Y;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Y;
  • - VKS, THA huyện V;
  • - Công an tỉnh Y;
  • - Bộ phận hồ sơ Công an tỉnh Y;
  • - Trại tạm giam (BC 02);
  • - Lưu HSơ, Tập án, THA (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Quang S

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 06/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Q bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger