Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HS - PT.

Ngày 05 - 3 - 2025.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Hồng Thắng.

Các Thẩm phán: Ông Trần Anh Tuấn và bà Ma Thị Tuyết Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Kiều Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: ông Trần Việt Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 04/2025/TLPT-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Tô Văn L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 71/2024/HS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

Bị cáo có kháng cáo:

Tô Văn L; sinh ngày 20/01/1998; nơi sinh: Huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Cao Lan; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tô Văn T, sinh năm 1977 và bà: Ninh Thị D, sinh năm 1979; có vợ: Hoàng Thị C, sinh năm 1997 và chưa có con; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 175/QĐ-XPHC ngày 07/9/2016 của Công an huyện H xử phạt 2.000.000đ về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác. Ngày 09/9/2016 đã chấp hành nộp phạt.
  • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 261/QĐ-XPHC ngày 13/12/2016 của Công an huyện H xử phạt 750.000đ về hành vi đánh nhau. Ngày 19/12/2016 đã chấp hành nộp phạt.
  • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 161/QĐ-XPHC ngày 24/6/2022 của Công an huyện H xử phạt 5.000.000đ về hành vi Cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Chưa chấp hành nộp phạt.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Văn V – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (Có mặt).

- Bị hại: Anh Trần Hồng Q, sinh năm 1992 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);

Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 14/6/2024, Trần Hồng Q và Tô Văn L cùng nhau đi uống bia tại quán “Chị em quán” của chị Đặng Thị L1, sinh năm 1992, thuộc thôn Làng Chẵng, xã H, huyện H. Cùng uống bia có Ninh Văn Q1, sinh năm 1996; Phạm Văn T1, sinh năm 1989; Trần Văn Đ, sinh năm 1988 cùng trú tại thôn L, xã H, huyện H; H, sinh năm 1983, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện H; Đinh Duy H, sinh năm 1985, trú tại thôn T, xã C, huyện Y. Phục vụ quán có Đặng Thị T2, sinh năm 1999, trú tại thôn X, xã H, huyện H cùng tham gia ngồi uống bia cùng nhóm của Q. Khi nhóm của Q đang uống bia thì có ông Lý Phương Q2, sinh năm 1968, trú tại thôn K, xã Y, huyện H sang bàn mời Đặng Thị Tam M cốc bia, thấy vậy, L nói “Ông sang chả mời con, chỉ mời chị đẹp”, ông Q2 nghe vậy chỉ cười và đi về, còn Q nói với L “Ông ấy mời ai thì mời” L đáp “Tao trêu ông ấy kệ tao”, Sau đó, Q và L xảy ra cãi, chửi nhau.

Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi mọi người đang uống bia và nói chuyện với nhau, giữa Q và L vẫn cãi chửi nhau, Q nói với L “Tao đố mày gọi được ai về đây đánh tao đấy”, L đáp “Thế bây giờ tao với mày luôn nhá” Q tiếp tục thách thức “Tao đố mày luôn nhớ”. Ngay lập tức L đứng dậy đẩy ghế nhựa đang ngồi về phía sau, tay trái cầm phần tựa lưng của ghế giơ lên đỉnh đầu, sau đó dùng hai tay cầm phần tựa lưng của ghế vụt mạnh về phía Q đang ngồi phía đối diện cách khoảng 1,2m. Thấy L đập ghế về phía mình, Q giơ tay trái lên đỡ thì bị chân ghế bên phải phía sau đập trúng cẳng tay trái, 01 chân ghế phía trước bên phải trúng trán trái gây thương tích. Bị đập trúng, Q ngồi ngửa về phía sau, tựa lưng ghế vào lan can cầu thang. Thấy vậy, Ninh Văn Q1 và Phạm Văn T3 giằng ghế trên tay của L, cùng lúc Q vùng dậy dùng tay phải định cầm chiếc cốc thủy tinh trên bàn để đánh lại thì L dùng tay phải cầm chiếc cốc thủy tinh trên mặt bàn giơ lên cao qua đầu ném về phía Q trúng vào vùng đầu bên trái, làm Q bất tỉnh ngã xuống nền nhà. L được Trần Văn Đ can ngăn và đưa về nhà, Q được người dân đưa đến cơ sở y tế điều trị.

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 157/2024/KLTTCT-TTPY ngày 08/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận:

  • Ô tổn thương nhu mô não hiện không còn hình ảnh trên phim chụp CT-Scanner: 11%; Chảy máu dưới màng nhện hiện không còn hình ảnh trên chẩn đoán hình ảnh: 10%; Tụ máu dưới màng cứng hiện vẫn còn hình ảnh trên phim chụp CT-Scanner: 16%; Ỏ khuyết xương sọ như mô tả: 26%; Sẹo phẫu thuật vùng đầu như mô tả: 2%; Sẹo vết thương vùng trán trái: 3%; Sẹo Cẳng tay trái kích thước như mô tả: 1%.
  • - Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Hồng Q tại thời điểm giám định là: 53% (năm mươi ba phần trăm) theo phương pháp cộng tại Thông tư.
  • - Cơ chế vật gây thương tích: Thương tích như trên là do vật tầy tác động trực tiếp gây nên.

Tại kết luận số 1024/KL-KTHS ngày 08/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận (Đối với video ghi lại hình ảnh Tô Văn L gây thương tích): Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong file video gửi giám định.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2024/HS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định:

Căn cứ điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, điểm i khoản 1) Điều 134 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Tô Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích".

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tô Văn L 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (28/8/2024).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 03 tháng 01 năm 2025, bị cáo Tô Văn L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, xuất trình thêm các tình tiết giảm nhẹ mới là: Bản sao có công chứng 02 Huân chương chiến công hạng ba của ông Trương Đình T4 là ông ngoại của bị cáo; 01 Giấy chứng nhận tham gia dân công hoả tuyến và 01 Quyết định thực hiện trợ cấp một lần đối với dân công hoả tuyến ông Tô Hồng C1 là ông nội của bị cáo; 01 đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bà Dương Thị X là bà ngoại của bị cáo và 01 đơn xin giảm nhẹ hình phạt bị hại Trần Hồng Q.

Kết thúc phần xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm:

  • - Về thủ tục tố tụng đảm bảo đúng quy định pháp luật; đơn kháng cáo bị cáo là hợp lệ trong hạn luật định; thủ tục giải quyết vụ án đúng trình tự tố tụng.
  • - Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết liên quan đến vụ án trên cơ sở các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, đánh giá mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Tô Văn L 06 (sáu) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình tài liệu mới: 02 Huân chương chiến công hạng ba của ông Trương Đình T4 là ông ngoại của bị cáo; 01 Giấy chứng nhận tham gia dân công hoả tuyến và 01 Quyết định thực hiện trợ cấp một lần đối với dân công hoả tuyến ông Tô Hồng C1 là ông nội của bị cáo; ngoài ra bà ngoại bị cáo là bà Dương Thị X và bị hại Trần Hồng Q cũng đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tô Văn L, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 71/2024/HS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang về hình phạt đối với bị cáo như sau:

Căn cứ: Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tô Văn L 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (28/8/2024). Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Khi được Hội đồng xét xử cho phép nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm mức hình phạt đối với bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, đúng pháp luật; trình tự, thủ tục giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Tô Văn L tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 14/6/2024, tại thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, Tô Văn L đã có hành vi dùng 01 chiếc ghế nhựa có tựa lưng màu nâu đỏ, cao 70cm trong đó phần tựa lưng cao 37cm, phần ghế ngồi có kích thước (31,5x30) cm đánh trúng cẳng tay trái, trán bên trái và ném 01 cốc thuỷ tinh có đường kính 6,5cm, cao 11,6cm, tay cầm dài 8,5cm trúng vùng đầu bên trái của Trần Hồng Q gây thương tích, tổn hại 53% (năm mươi ba phần trăm) sức khỏe.

Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, điểm i khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt 06 năm tù là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[2] Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong vụ án này, bị hại cũng có một phần lỗi, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm bị cáo Tô Văn L luôn thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình tài liệu mới: Bị cáo có ông ngoại là ông Trường Đình T5 là liệt sỹ được tặng thưởng 01 Huân chương chiến công giải phóng hạng ba vì đã lập chiến công xuất sắc trong chiến đấu chống Mỹ cứu nước, 01 huân chương hạng ba vì đã có thành tích phục vụ trong Q3; 01 Giấy chứng nhận dân công hoả tuyến của ông Tô Hồng C1 là ông nội bị cáo, 01 quyết định thực hiện trợ cấp một lần đối với ông Tô Hồng C1 là đối tượng dân công hoả tuyến tham gia kháng chiến; ngoài ra bị cáo còn xuất trình 01 đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bà Dương Thị X là bà ngoại của bị cáo và 01 đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại Trần Hồng Q. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh tại giai đoạn phúc thẩm, được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng đối với bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa;

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là có căn cứ cần xem xét chấp nhận.

[3] Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tô Văn L, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 71/2024/HS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang về hình phạt đối với bị cáo như sau:

  1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
  2. Xử phạt bị cáo Tô Văn L 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (28/8/2024).

  3. Về án phí: Bị cáo Tô Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (05/3/2025)./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ma Thị Tuyết Mai – Trần Anh Tuấn

Ma Hồng Thắng

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh T.Quang;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh TQuang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh;
  • - TAND huyện Hàm Yên;
  • - VKSND huyện Hàm Yên;
  • - CQCSĐT CA huyện Hàm Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Hàm Yên;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Văn phòng TAND tỉnh;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ma Hồng Thắng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ma Thị Tuyết Mai – Trần Anh Tuấn

Ma Hồng Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS - PT. ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 06/2025/HS - PT.
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tô Văn Long
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger