|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST
Ngày: .................
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Hải Nam và bà Mai Thanh Huyền;
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thơm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Trong ngày ...tháng ....năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 105 /2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thanh H, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình - vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin xét xử vắng mặt;
Bị đơn: Anh Mai Văn T, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn Q, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình - vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin xét xử vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Trần Thị Thanh H trong đơn khởi kiện và trong bản tự khai ngày 10/12/2024 trình bày:
Về tình cảm: Chị và anh Mai Văn T yêu nhau và đăng ký kết hôn tự nguyện tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 12/02/2015. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống với nhau tại nhà ngoại tại thôn B, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Quá trình chung sống với nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Năm 2022, chị H biết được anh T chơi đánh bài, cá độ bóng đá dẫn đến nợ nần. Chị H và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh T không nghe, không có chút thay đổi nào. Quá trình nuôi con, anh T không chu cấp tiền bạc để chị H chăm lo cho cuộc sống của con. Vì vậy, mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng. Vợ chồng ly thân đã được hơn một năm (từ tháng 11/2023 cho đến nay), không còn quan tâm đến nhau nữa. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chị H đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Mai Văn T.
Về con chung: Chị và anh Mai Văn T có hai người con chung, là cháu M Trần Khánh Đ, sinh ngày 28/8/2017 và cháu Mai Nam P, sinh ngày 01/11/2022. Kể từ khi ly thân, chị H là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung. Khi ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng hai con chung, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/ tháng/2 con cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Bị đơn anh Mai Văn T trong bản tự khai ngày 13/02/2025 trình bày:
Về tình cảm: Anh và chị H yêu nhau và đăng ký kết hôn tự nguyện tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 12/02/2015. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống với nhau tại nhà ngoại tại thôn B, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính nhau, không tôn trọng, không tin tưởng lẫn nhau nên quá trình chung sống thường xảy ra nhiều cãi vả. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng nay đã hết nên chị H nhất quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý.
Về con chung: Anh thừa nhận vợ chồng có hai con chung là cháu Mai Trần Khánh Đ, sinh ngày 28/8/2017 và cháu Mai Nam P, sinh ngày 01/11/2022. Ly hôn, anh đồng ý giao hai con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng/tháng/2 con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thanh H xin ly hôn anh Mai Văn T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình về ly hôn, tranh chấp nuôi con, được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hôn nhân: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, chị Trần Thị Thanh H và anh Mai Văn T đăng ký kết hôn tự nguyện tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 12/02/2015 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
[3] Về mâu thuẫn: Theo trình bày của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án, sau khi kết hôn, vợ chồng chị H chung sống hạnh phúc tại nhà mẹ đẻ tại thôn T, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Quá trình chung sống với nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Năm 2022, anh T chơi đánh bài, cá độ bóng đá dẫn đến nợ nần. Chị H và gia đình hai bên đã nhiều lần hoà giải, khuyên nhủ tuy nhiên anh T vẫn không hề thay đổi. Quá trình ly thân, anh T không chu cấp tiền bạc để chị H chăm lo nuôi dạy con cái. Vì vậy, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng thêm trầm trọng.
[4] Qua xem xét, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo thừa nhận của các bên thì, mâu thuẫn vợ, chồng giữa chị Trần Thị Thanh H và anh Mai Văn T là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Anh T ham chơi, không chăm lo vun vén hạnh phúc gia đình. Mặc dù, đã nhiều lần chị H và bố mẹ hai bên đã nhiều lần hoà giải, khuyên nhủ nhưng anh T vẫn chứng nào tật đó, không chịu thay đổi. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng không thể chung sống được với nhau nên chị H và anh T đã sống ly thân nhau từ tháng 11/2023 cho đến nay. Anh T cũng thừa nhận mâu thuẫn nảy sinh của vợ chồng như lời trình bày của chị H. Xét thấy, hôn nhân chỉ thực sự tồn tại khi cả hai vợ chồng cùng yêu thương, cùng nhau xây đắp gia đình, cùng nhau có trách nhiệm, chăm sóc cũng như tạo mọi điều kiện cho nhau trong cuộc sống. Anh T đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 luật Hôn nhân gia đình làm cho tình cảm vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, cho chị Trần Thị Thanh H được ly hôn với anh Mai Văn T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[5] Về nuôi con chung: Vợ chồng có hai con chung tên là Mai Trần Khánh Đ, sinh ngày 28/8/2017 và cháu Mai Nam P, sinh ngày 01/11/2022. Hiện các con đang sống cùng với mẹ. Khi ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng các con chung. Anh T đồng ý giao con chung cho chị H chăm sóc và nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cần căn cứ vào quyền và lợi ích về mọi mặt của con. Các con chung đã sống cùng với chị H kể từ khi vợ, chồng chị ly thân. Để hạn chế việc xáo trộn về mặt tâm lý của các con khi bố mẹ ly hôn, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao các con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của vợ chồng, phù hợp với nguyện vọng của con chung M Trần Khánh Đ.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị Thanh H đề nghị anh Mai Văn T cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 2.000.000 đồng đến khi con đủ 18 tuổi. Anh T đồng ý với chị H về việc cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu M Trần Khánh Đ và cháu Mai Nam P cho chị H tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng, anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 2.000.000 đồng là phù hợp với nguyện vọng của các bên đương sự và quy định của pháp luật tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình. Sau này vì quyền lợi của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung, tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, bị đơn anh Mai Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228, Điều 264, Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Thanh H, xử cho chị Trần Thị Thanh H được ly hôn với anh Mai Văn T.
- Về con chung: Giao hai con chung Mai Trần Khánh Đ, sinh ngày 28/8/2017 và Mai Nam P, sinh ngày 01/11/2022 cho chị H tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng. Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi hai con đủ 18 tuổi.
Anh Mai Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Sau này nếu điều kiện thay đổi, vì quyền lợi của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung, tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Thị Thanh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật để sung vào ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình theo biên lai thu tiền số 0004475 ngày 12/11/2024 (chị Trần Thị Thanh H đã nộp đủ án phí). Bị đơn anh Mai Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh H1 |
Bản án số 06 ngày 2025-03-05 của TAND huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Số bản án: 06
- Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TAND huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị và anh Mai Văn Th yêu nhau và đăng ký kết hôn tự nguyện tại UBND xã Q, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình vào ngày ...... Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống với nhau tại nhà ngoại tại thôn 2, xã L, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Quá trình chung sống với nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Năm 2022, chị H biết được anh Th chơi đánh bài, cá độ bóng đá dẫn đến nợ nần. Chị H và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh Th không nghe, không có chút thay đổi nào. Quá trình nuôi con, anh Th không chu cấp tiền bạc để chị Hương chăm lo cho cuộc sống của con. Vì vậy, mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng. Vợ chồng ly thân đã được hơn một năm (từ tháng 11/2023 cho đến nay), không còn quan tâm đến nhau nữa. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chị H đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Th
