|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do -Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28/02/2025
V/v Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thị Luyến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bạn và bà Vũ Thị Linh
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Giao – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên toà:
Bà Lê Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân thành phố Chí Linh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 437/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 03/2025/QÐST-HNGĐ ngày 10 tháng 2 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1972;
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1970;
Đều có địa chỉ: KDC Đ, phường A, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Chị S, anh B đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn và bị đơn đều trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị S và anh Nguyễn Văn B tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 25/10/1990 tại UBND xã A, huyện C, tỉnh Hải Hưng (Nay là phường A, thành phố C, tỉnh Hải Dương). Sau ngày cưới, vợ chồng chị S, anh B ở chung với bố mẹ chồng ở khu dân cư Đ, phường A, thành phố C, tỉnh Hải Dương một thời gian thì ra ở riêng. Quá trình vợ chồng anh B, chị S chung sống với nhau ban đầu hạnh phúc được vài tháng. Sau đó, thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn nguyên nhân do anh B không chung thủy. Năm 2018, chị S đã làm đơn xin ly hôn, anh B hứa sẽ không tái phạm và viết cam kết, gia đình động viên chị S suy nghĩ lại để đoàn tụ nuôi dạy con chung, nên chị S đã rút đơn ly hôn về đoàn tụ. Đến nay anh B không thay đổi nên cuộc sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn đánh chửi nhau, chị S cũng không còn tin tưởng với anh B nữa. Đến tháng 11 năm 2024, hai vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay chị S đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B. Còn anh B biết anh có làm một số việc sai, đã xin lỗi chị S, mong muốn chị S cho anh cơ hội, nên anh B không đồng ý ly hôn. Anh cũng không có biện pháp nào khắc phục được mâu thuẫn của vợ chồng.
Về con chung: Chị S và anh B có 02 con chung là Nguyễn Thị Như H, sinh ngày 15/8/1992 và Nguyễn Thị Hồng M, sinh ngày 26/8/2004, hiện các con chung đã trên 18 tuổi, đều khỏe mạnh không có nhược điểm về thể chất, tinh thần nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Chị S và anh B đều không yêu cầu giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án triệu tập anh B đến Toà án làm việc nhưng anh B đều vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị C - là chị gái ruột của chị S trình bày: Chị S và anh B là vợ chồng hợp pháp. Quá trình vợ chồng anh B, chị S chung sống với nhau ban đầu hạnh phúc được vài tháng, lý do mâu thuẫn do mâu thuẫn do anh B có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác nên đã đánh chửi chị S, đuổi chị S ra khỏi nhà. Chị S nhiều lần tha thứ, nhưng thời gian gần đây anh B vẫn không thay đổi. Ngoài ra, anh B còn nợ tiền, nhưng chị S lại là người đi trả nợ. Gia đình đã động viên nhiều lần nhưng anh B không thay đổi. Vì vậy, chị S xin ly hôn anh B thì tôi đề nghị Toà án giải quyết cho chị S, anh B ly hôn.
- Ông Nguyễn Gia T là bố đẻ của anh B trình bày: Anh B, chị S được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 1990, được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục tập địa phương. Quá trình anh chị chung sống với nhau có mâu thuẫn như nào ông không rõ vì chưa khi nào anh chị nói chuyện để chúng tôi hòa giải cho anh chị. Nay, vợ chồng có cãi nhau kinh tế thì bảo ban nhau, còn chuyện anh B có mối quan hệ với người phụ nữ khác thì ông không biết. Đến nay, gia đình ông mong muốn anh chị về đoàn tụ, ông sẽ động viên, nói chuyện, còn anh chị có nghe hay không thì do anh chị tự quyết định. Nếu chị S vẫn kiên quyết ly hôn thì Tòa án giải quyết cho chị S, anh B ly hôn. Anh B, chị S có 02 con chung là Nguyễn Thị Như H, sinh năm 1992 và Nguyễn Thị Hồng M, sinh ngày 26/8/2004 hai cháu đã trưởng thành không có nhược điểm tinh thần.
Xác minh tại Trưởng KDC Đ, phường A: Anh B, chị S là vợ chồng có hộ khẩu thường trú tại KDC Đ, phường A. Quá trình anh chị chung sống có xảy ra mâu thuẫn gì không thì ông không biết, chưa khi nào nhận được đề nghị hoà giải của anh B, chị S. Ông mong muốn chị S, anh B tiếp tục chung sống với nhau, còn anh chị ở được với nhau hay không do anh chị quyết định. Anh B, chị S có 02 con chung đều đã trưởng thành.
Tại phiên toà sơ thẩm:
Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt tại phiên toà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh trình bày việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký trong quá trình thu thập chứng cứ, người tiến hành tố tụng tại phiên toà chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng, bị đơn không chấp hành theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị S ly hôn anh Nguyễn Văn B.
- Về con chung: Chị S và anh B có 02 con chung là Nguyễn Thị Như H, sinh ngày 15/8/1992 và Nguyễn Thị Hồng M, sinh ngày 26/8/2004 đều đã trưởng thành, không có nhược điểm về thể chất tinh thần, nên không giải quyết.
- Về tài sản: Không giải quyết.
- Về án phí: Chị S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án về Ly hôn và bị đơn anh B có hộ khẩu thường trú tại thành phố C, tỉnh Hải Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà, các đương sự đều vắng mặt, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai đã được tống đạt hợp lệ, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt anh B, chị S.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị S và anh Nguyễn Văn B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 25/10/1990 tại UBND xã A, huyện C, tỉnh Hải Hưng (Nay là phường A, thành phố C, tỉnh Hải Dương) xác nhận hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, do anh B không chung thuỷ, kinh tế không thống nhất, đã ly thân từ tháng 11/2024 đến nay. Chị S xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với anh B được nữa. Quá trình giải quyết, anh B không đồng ý ly hôn, nhận ra lỗi sai, mong chị S cho anh cơ hội, nhưng không đến Toà án làm việc, không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn. HĐXX xét thấy, mâu thuẫn của chị S, anh B đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đã ly thân nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, xử cho chị S ly hôn anh B.
[3] Về quan hệ con chung: Chị S và anh B có 02 con chung là Nguyễn Thị Như H, sinh ngày 15/8/1992 và Nguyễn Thị Hồng M, sinh ngày 26/8/2004 đều đã trưởng thành, không có nhược điểm về thể chất tinh thần, nên không giải quyết.
[4] Về quan hệ tài sản: Chị S và anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không giải quyết.
[5] Về án phí: Chị S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị S ly hôn anh Nguyễn Văn B.
- Về con chung: Chị S và anh B có 02 con chung là Nguyễn Thị Như H, sinh ngày 15/8/1992 và Nguyễn Thị Hồng M, sinh ngày 26/8/2004 đều đã trưởng thành, không có nhược điểm về thể chất tinh thần, nên không giải quyết.
- Về tài sản: Không giải quyết.
- Án phí: Chị Nguyễn Thị S phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được đối trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn)đồng tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh theo biên lai số AA/2020/0004333 ngày 02 tháng 12 năm 2024. Chị S đã thi hành xong.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Vũ Thị Luyến |
Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn
- Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
