Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG ĐẤT

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/DS-ST

Ngày: 28-02-2025

V/v: Tranh chấp thừa kế tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Châm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Lộc

Bà Nguyễn Thị Quế Phượng

- Thư ký phiên toà:

Bà Hoàng Thị Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Đất.

- Đại diện Viện kiểm sát huyện Long Đất tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Tùng Lâm – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 152/2020/TLST-DS ngày 23 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐ-HPT ngày 20 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐ-HPT ngày 12 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Kim P, sinh năm 1964; Địa chỉ: Tổ C Ô Khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Có mặt.
  2. Bị đơn: Bà Trần Kim Y, sinh năm 1959; Địa chỉ: 3 Khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Kim Á, sinh năm 1949; Địa chỉ: 3 Ô Khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  2. Ông Trần Đình N, sinh năm 1955; Địa chỉ: 33/142/ ô C Khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, Bản tự khai, quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Trần Kim P trình bày:

Bà Trần Kim Á, ông Trần Đình N, bà Trần Kim Y và bà Trần Kim P là con ruột của cụ Trần Văn C (mất năm 2009 và cụ Nguyễn Thị B (mất năm 1978).

Trước đây cụ Trần Văn C có khoảng hơn 4 mẫu ruộng, sau đó cụ C chia cho 04 người con là Trần Kim Á, Trần Đình N, Trần Kim P, Trần Kim Y mỗi người một phần, còn lại 2.354m² đất cụ C để bà Y đứng tên giúp. Lý do cụ C để bà Y đứng tên giúp trên giấy tờ đất là vì phần đất 2.354m² của cụ C tiếp giáp với phần đất của bà Y, tại thời điểm bà Y làm thủ tục cấp sổ đỏ do cụ C gần 80 tuổi nên mới nhờ bà Y đứng tên để tiện làm thủ tục. Ngày 18/10/2002, cụ C có nhờ người lập “Giấy xác nhận gởi đất cho con” với nội dung gửi 2.354m² thuộc thửa đất số 120 tờ bản đồ số 26 thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vào trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 121801 do UBND huyện L (nay là huyện L) cấp ngày 06/11/1997 của bà Trần Kim Y. Cụ C có nói rõ với cả 4 người con và ý nguyện của cụ C giữ phần đất này phòng khi đau ốm, bệnh tật, mất đi thì các con có thể sử dụng phần tài sản này để lo cho cụ mà không cần phiền đến các con. Tuy nhiên, tới khi cụ C mất vẫn chưa cần phải dùng đến phần đất của cụ C gửi cho Y đứng tên giúp. Sau khi cụ C mất, bà Y đã tự ý chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất của cụ C gửi bà Y giữ giúp.

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 08/10/2020, bà P yêu cầu Tòa án:

  • Công nhận diện tích đất 2.354m² thuộc thửa đất số 120 tờ bản đồ số 26 tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 121801 do UBND huyện L cấp ngày 06/11/1997 là di sản của cụ Trần Văn C để lại.
  • Phân chia di sản trên của cụ Trần Văn C theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà được biết bà Y đã chuyển nhượng hết phần đất trên cho người khác. Do đó, tại Đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện đề ngày 07/10/2024, bà P yêu cầu bà Trần Kim Y có nghĩa vụ trả lại phần tiền tương ứng với giá trị đất mà mỗi người thừa kế của cụ C là bà Trần Kim Á, Trần Đình N, Trần Kim P được hưởng.

Đối với bị đơn bà Trần Kim Y: Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc, tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Kim Á: Việc cụ Trần Văn C gửi 2.354m² đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 121801 do UBND huyện L cấp ngày 06/11/1997 của bà Trần Kim Y là sự thật. Tài sản này sau khi cụ C mất chưa được phân chia theo quy định của pháp luật nên với yêu cầu khởi kiện của bà P về việc chia đều giá trị tài sản cho các đồng thừa kế của cụ C bà đồng ý. Bà không lập gia đình, sống đơn thân không có chồng con nên bà không yêu cầu được hưởng thừa kế đối với phần tài sản này. Trường hợp yêu cầu của bà P được chấp nhận và phân chia tài sản thừa kế theo quy định của pháp luật thì bà đề nghị Tòa án giải quyết để bà P được hưởng phần tài sản của bà lẽ ra được hưởng.
  2. Ông Trần Đình N: Không có ý kiến với yêu cầu khởi kiện của bà P và yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc vắng mặt.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất phát biểu ý kiến: Trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Tòa án còn vi phạm về thời hạn giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Ngày 20/01/2025, Viện kiểm sát đã có Công văn số 16/YC-VKS-DS yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ về việc yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ là đơn xin cấp giấy chứng nhận QSD đất để cấp giấy chứng nhận QSD đất thửa đất số 120 bản đồ số 26 thị trấn L được cấp giấy chứng nhận QSD đất số H121801 ngày 06/11/1997 cho bà Trần Kim Y, ý kiến của UBND huyện L về việc cấp giấy chứng nhận là cho hộ bà Y hay cho cá nhân bà Y để xác định nguồn gốc thửa đất tranh chấp có phải là di sản của ông C hay không. Nếu có căn cứ xác định đất cấp cho hộ thì đưa các con bà Y vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên Tòa án đã không thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát không phát biểu quan điểm hướng giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

  • Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trần Kim P khởi kiện về “Tranh chấp thừa kế tài sản” đối với bị đơn Trần Kim Y có địa chỉ cư trú tại huyện L nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Đất theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn Trần Kim Y đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; Ông Trần Đình N, bà Trần Kim Á có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

Quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Kim Y đã được triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng, không gửi văn bản nêu ý kiến hoặc phản đối trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp các tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình được pháp luật quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn có ý thức không quan tâm và bỏ mặc hậu quả pháp lý có thể xảy ra do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án.

[2.1] Xét yêu cầu công nhận diện tích đất 2.354m² thuộc thửa đất số 120 tờ bản đồ số 26 thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 121801 do UBND huyện L cấp ngày 06/11/1997 là di sản của cụ Trần Văn C.

Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 121801 do UBND huyện L cấp ngày 06/11/1997 cấp cho bà Trần Kim Y, bà Y được quyền sử dụng tổng diện tích 12.303m² đất tại H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong đó có 2.354m² thuộc thửa đất số 120 tờ bản đồ số 26.

Theo Kết luận giám định số 2783/PC54-Đ3 ngày 14/02/2017 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Chữ ký mang tên Trần Kim Y trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 đến A4 so với chữ ký của Trần Kim Y trên tài liệu mẫu ký hiệu M1 đến M3.... do cùng một người ký ra”. “Giấy xác nhận gởi đất cho con” ngày 18/10/2002 có chữ ký của cụ Trần Văn C và bà Trần Kim Y là tài liệu được đánh mã số M2.

“Giấy xác nhận gởi đất cho con” có nội dung: “Tôi tên là Trần Văn C, sinh năm 1917. Nguyên tôi có bốn mẫu ruộng mà gia đình tôi vẫn làm từ trước tới nay. Vào năm 1997, tôi có chia số ruộng trên cho 05 người con và đã được cấp giấy chủ quyền sử dụng đất. Riêng tôi có để lại một thửa ruộng là phần của tôi vì phần ruộng để lại còn ít nên tôi không tách riêng và gởi luôn vào giấy chủ quyền đất của con tôi là Trần Kim Y, sinh năm 1959 đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 121801 do UBND huyện L cấp ngày 06/11/1997 trong đó có thửa 120 diện tích khoảng hơn 02 sào.

Nay tôi làm giấy này để làm bằng chứng số thửa trên là thuộc quyền sở hữu của tôi. Nếu sau này tôi có cần sử dụng đến số đất đó thì tôi được toàn quyền số thửa mà tôi gởi cho con gái của tôi”.

Từ nội dung trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định 2.354m² thuộc thửa đất số 120 tờ bản đồ số 26 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 121801 do UBND huyện L cấp ngày 06/11/1997 cấp cho bà Trần Kim Y là di sản của cụ Trần Văn C nên yêu cầu của nguyên đơn về việc công nhận tài sản này là di sản thừa kế của cụ Trần Văn C là có căn cứ, được chấp nhận theo quy định tại Điều 612 Bộ luật dân sự. Do chứng cứ đã đầy đủ nên việc Tòa án không thực hiện việc xác minh, thu thập chứng cứ theo Công văn số 16/YC-VKS-DS ngày 20/01/2025 như đã trả lời phúc đáp tại nội dung Công văn số 77/CV-TA ngày 27/02/2025 là phù hợp.

[2.2]. Xét yêu cầu buộc bà Trần Kim Y có nghĩa vụ trả lại phần tiền tương ứng với giá trị đất của bà, bà Á, ông N được hưởng tương ứng với phần quyền sử dụng đất mà ba bà để lại cho chúng bà thừa kế.

Cụ Trần Văn C và Nguyễn Thị B là vợ chồng và có 05 người con là: bà Trần Kim Á; ông Trần Hữu P1 là liệt sĩ, hy sinh năm 1969, thời điểm ông P1 hy sinh chưa có vợ, con; ông Trần Đình N; bà Trần Kim Y; bà Trần Kim P.

Cụ C chết không để lại di chúc, bà Trần Kim P, bà Trần Kim Á cho rằng phần đất 2.354m² khi cụ C mất vẫn chưa chia thừa kế nên bà P yêu cầu chia di sản thừa kế cho 04 người thừa kế của cụ C theo quy định tại các Điều 613; Điều 650; Điều 651 Bộ luật Dân sự có căn cứ, được chấp nhận. Do quyền sử dụng đất của cụ C đã bị bà Y chuyển nhượng toàn bộ cho nhiều người, bà P xác định không thể chia di sản thừa kế bằng hiện vật mà yêu cầu bà Y có nghĩa vụ hoàn trả lại cho các đồng thừa kế bằng giá trị của quyền sử dụng đất là có căn cứ theo quy định tại Điều 660 Bộ luật Dân sự.

Theo Biên bản định giá tài sản ngày 04/12/2024, Hội đồng định giá xác định: Lô đất thuộc thửa đất số 120, tờ bản đồ 26 nằm tại mặt tiền đường tỉnh lộ 44A (giai đoạn 2) thuộc đường loại 2, vị trí 1, giá thị trường 5.000.000đ (Năm triệu đồng)/1m².

Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 121801 do UBND huyện L cấp ngày 06/11/1997 lô đất thuộc thửa đất số 120 tờ bản đồ số 26 có diện tích 2.354m². Tuy nhiên theo hồ sơ xác minh tại Văn phòng đăng ký đất đai huyện L thì thửa đất số 120, tờ bản đồ số 26 thuộc thửa đất số 02, tờ bản đồ số 125 thị trấn L. Hiện nay, thửa đất số 02, tờ bản đồ số 125 hiện đã tách thành các thửa:

  • Thửa đất số 114, tờ bản đồ số 125, diện tích 317,2m², nay là thửa đất số 28, tờ bản đồ số 118, diện tích 315,8m² (do thửa đất 114, tờ bản đồ số 125 hợp với thửa đất số 27 và thửa đất số 28 thuộc tờ bản đồ số 118 và tách thành thửa đất số 27, tờ bản đồ số 118 và thửa đất số 28, tờ bản đồ 118). Hiện nay do ông Đào Anh T và bà Ngô Thị B1 đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất.
  • Thửa đất số 139, tờ bản đồ số 125, diện tích 446,6m², hiện nay do bà Trần Thị Huyền T1 đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất.
  • Thửa đất số 115, tờ bản đồ số 125, diện tích 236m², hiện nay do bà Nguyễn Thị S đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất.
  • Thửa đất số 116, tờ bản đồ số 125, diện tích 574,8m², hiện nay do bà Nguyễn Thị S đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất.
  • Thửa đất số 02, tờ bản đồ số 125, diện tích 266.4m², hiện nay do ông Phùng Tiến T2 và bà Nguyễn Thị Ngọc B2 đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất.

Sau khi có kết quả trả lời của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện L, bà P thấy tổng các thửa đất nêu trên hiện có diện tích 1.839,6m² do đó bà P yêu cầu được chia thừa kế trên giá trị của diện tích 1.839,6m².

Do đó, giá trị của tài sản cụ C để lại được xác định: 1.839,6m² x 5.000.000đ/m² = 9.198.000.000₫ (Chín tỷ, một trăm chín mươi tám triệu đồng).

Mỗi người con của cụ C được hưởng giá trị tài sản thừa kế của cụ C là: 9.198.000.000đ: 4 = 2.299.500.000đ (Hai tỷ, hai trăm chín mươi chín triệu, năm trăm nghìn đồng).

Do bà Y đã chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất và nhận toàn bộ tiền từ việc chuyển nhượng đất nên bà Y có nghĩa vụ phải trả lại cho ông Trần Đình N, bà Trần Kim Á, bà Trần Kim P mỗi người 2.299.500.000₫ (Hai tỷ, hai trăm chín mươi chín triệu, năm trăm nghìn đồng). Bà Á đề nghị Tòa tuyên cho bà P được nhận phần tài sản thừa kế lẽ ra bà Á được hưởng.

Do đó, bà Y có nghĩa vụ trả cho ông Trần Đình N số tiền 2.299.500.000đ (Hai tỷ, hai trăm chín mươi chín triệu, năm trăm nghìn đồng) và trả cho bà Trần Kim P số tiền 4.599.000.000₫ (Bốn tỷ, năm trăm chín mươi chín triệu đồng).

[3]. Về chi phí tố tụng: Chi phí định giá, đo vẽ, sao lục hồ sơ bà Trần Kim P tự nguyện chịu toàn bộ. Bà P đã nộp đủ.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

[4.1]. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 31/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[4.2]. Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận toàn bộ nên bà Trần Kim P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng: Các Điều 611, 612, 613, 623, 649, 651, 660, 357 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Kim P.
    1. Công nhận diện tích đất 2.354m² thuộc thửa đất số 120 tờ bản đồ số 26 thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 121801 do UBND huyện L cấp ngày 06/11/1997 cấp cho bà Trần Kim Y là di sản của cụ Trần Văn C.
    2. Buộc bà Trần Kim Y có nghĩa vụ trả lại cho ông Trần Đình N số tiền 2.299.500.000₫ (Hai tỷ, hai trăm chín mươi chín triệu, năm trăm nghìn đồng) và trả lại cho bà Trần Kim P số tiền 4.599.000.000₫ (Bốn tỷ, năm trăm chín mươi chín triệu đồng).
  2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Bà Trần Kim Y phải nộp 117.198.000đ (Một trăm mười bảy triệu, một trăm chín mươi tám nghìn đồng).
    2. Hoàn trả lại cho bà Trần Kim P 6.500.000đ (Sáu triệu, năm trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004272 ngày 05/11/2020 của Cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất;
  • - Thi hành án dân sự huyện Long Đất;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Châm

Áp dụng: Các Điều 611, 612, 613, 623, 649, 651, 660, 357 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Kim P.
    1. Công nhận diện tích đất 2.354m² thuộc thửa đất số 120 tờ bản đồ số 26 thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 121801 do UBND huyện L cấp ngày 06/11/1997 cấp cho bà Trần Kim Y là di sản của cụ Trần Văn C.
    2. Buộc bà Trần Kim Y có nghĩa vụ trả lại cho ông Trần Đình N số tiền 2.299.500.000₫ (Hai tỷ, hai trăm chín mươi chín triệu, năm trăm nghìn đồng) và trả lại cho bà Trần Kim P số tiền 4.599.000.000₫ (Bốn tỷ, năm trăm chín mươi chín triệu đồng).
  2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Bà Trần Kim Y phải nộp 117.198.000đ (Một trăm mười bảy triệu, một trăm chín mươi tám nghìn đồng).
    2. Hoàn trả lại cho bà Trần Kim P 6.500.000đ (Sáu triệu, năm trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004272 ngày 05/11/2020 của Cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA

Nguyễn Thị Quế Phượng

Nguyễn Bá L

Đinh Thị Châm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/DS-ST ngày 28/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về tranh chấp thừa kế tài sản.

  • Số bản án: 06/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Kim P. 1.1. Công nhận diện tích đất 2.354m² thuộc thửa đất số 120 tờ bản đồ số 26 thị trấn Long Hải, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 121801 do UBND huyện Long Đất cấp ngày 06/11/1997 cấp cho bà Trần Kim Y là di sản của cụ Trần Văn C. 1.2. Buộc bà Trần Kim Y có nghĩa vụ trả lại cho ông Trần Đình N số tiền 2.299.500.000đ (Hai tỷ, hai trăm chín mươi chín triệu, năm trăm nghìn đồng) và trả lại cho bà Trần Kim P số tiền 4.599.000.000đ (Bốn tỷ, năm trăm chín mươi chín triệu đồng).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger