Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN IA GRAI

TỈNH GIA LAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST

Ngày 28/02/2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Rcom Blan và bà Nguyễn Thị Mý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Hạ - Thư ký Toà án Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Phan Cao Kỳ - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 158/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T; địa chỉ: Thôn T, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1; địa chỉ: Thôn T, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn T1 tiến hành đăng ký kết hôn vào năm 2005 tại UBND thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn bà T và ông T1 sinh sống hạnh phúc tại nhà riêng ở thôn T, huyện I, tỉnh Gia Lai. Tuy nhiên khoảng hơn 1 năm nay giữa bà T và ông T1 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là vì bà T đi làm ăn xa ít có thời gian ở nhà chăm sóc cho gia đình sau đó ông T1 nghi ngờ bà T có mối quan hệ tình cảm bên ngoài khiến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Ngoài ra ông T1 thường có những lời nói xúc phạm, đe dọa gây áp lực cho bà T. Sự việc diễn ra nhiều lần khiến bà T không thể chịu đựng được, hiện nay bà T và ông T1 đã sống ly thân từ cuối năm 2023 đến nay. Bà T không còn tình cảm với ông T1 nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà T và ông T1 được ly hôn.

- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thương yêu C được giao hai cháu Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 12/10/2008 và cháu Nguyễn Thị Mỹ D, sinh ngày 23/01/2015 cho ông Nguyễn Văn T1 nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị T sẽ cấp dưỡng cho các con với mức 1.000.000 đồng/tháng/cháu cho đến khi các con đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Bị đơn là ông Nguyễn Văn T1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T trình bày về thời gian, địa điểm kết hôn và mâu thuẫn vợ chồng như trên là đúng sự thật. Sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân giữa hai vợ chồng rất hạnh phúc, tuy nhiên từ năm 2023 giữa ông T1 và bà T bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là vì bà T có mối quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, không có sự quan tâm đến gia đình, mặc dù đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng bà T không thay đổi được. Hiện nay ông T1 và bà T đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay, ông T1 không còn tình cảm với bà T đề nghị Tòa án giải quyết cho ông T1 và bà T được ly hôn.

- Về con chung: Ông Nguyễn Văn T1 yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 12/10/2008 và cháu Nguyễn Thị Mỹ D, sinh ngày 23/01/2015. Ông Nguyễn Văn T1 yêu cầu bà Nguyễn Thị T cấp dưỡng với số tiền 1.000.000 đồng/tháng/cháu cho đến khi con đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Ông Nguyễn Văn T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành pháp luật đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân, cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Văn T1. Về con chung, giao cháu Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 12/10/2008 và cháu Nguyễn Thị Mỹ D, sinh ngày 23/01/2015 cho ông T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con, đề nghị chấp nhận mức cấp dưỡng 1.000.000đ/tháng/01 người con. Bà T phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quyền khởi kiện, thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp:

Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn T1 đã đăng ký kết hôn vào năm 2005 tại UBND thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Định. Sau thời gian chung sống, bà T muốn ly hôn với ông T1 để chấm dứt quan hệ hôn nhân nên có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Bị đơn cư trú tại: Thôn T, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai nên Tòa án nhân dân huyện Ia Grai có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn và nuôi con khi ly hôn nên quan hệ pháp luật có tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:

Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn T1 xác lập hôn nhân tự nguyện, đăng ký kết hôn đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, do ông T1 ghen tuông, nghi ngờ bà T có mối quan hệ tình cảm với người đàn ông khác nên nhiều lần chửi mắng, xúc phạm bà T dẫn đến mâu thuẫn. Ngoài ra còn có những lời nói xúc phạm, đe dọa khiến bà Thương cảm T2 áp lực, hiện nay bà T không còn muốn tiếp tục chung sống với ông T1 nên đề nghị được ly hôn.

Ông Nguyễn Văn T1 thừa nhận có lời nói xúc phạm, mắng chửi bà T nhưng nguyên nhân là do ông T1 cảm thấy bà T không còn sự quan tâm đến gia đình như trước, thường xuyên đi làm xa khiến tình cảm vợ chồng không còn.

Do đó, có căn cứ xác định nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn giữa bà T và ông T1 là do ông T1 thiếu sự tôn trọng, thường xuyên nghi ngờ và mắng chửi bà T.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà T và ông T1 đã được phân tích, hòa giải về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng để các bên có biện pháp khắc phục mâu thuẫn, có cơ hội được đoàn tụ nhưng bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn. Mặc dù ông T1 không đồng ý ly hôn nhưng bà T không còn mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân. Ngoài ra, bà T và ông T1 đã sống ly thân từ cuối năm 2023 đến nay, xét thấy mâu thuẫn xảy ra một thời gian dài nhưng cả hai bên đều không tìm cách giải quyết mâu thuẫn, từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông T1 đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T về việc ly hôn với ông T1.

[3] Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn T1 có 02 người con chưa thành niên là cháu Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 12/10/2008 và cháu Nguyễn Thị Mỹ D, sinh ngày 23/01/2015.

Bà Nguyễn Thị Thương yêu C được giao hai cháu Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 12/10/2008 và cháu Nguyễn Thị Mỹ D, sinh ngày 23/01/2015 cho ông Nguyễn Văn T1 nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị T sẽ cấp dưỡng cho các con với mức 1.000.000 đồng/tháng/cháu cho đến khi các con đủ 18 tuổi.

Ông T1 không đồng ý ly hôn với bà T, tuy nhiên trong trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn thì ông T1 đồng ý sẽ nuôi dưỡng hai con, bà T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với mức 1.000.000 đồng/tháng/cháu cho đến khi các con đủ 18 tuổi.

Xét việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên sau khi ly hôn là trách nhiệm của cha, mẹ đối với con.

Ông T1 và bà T đều đủ điều kiện, khả năng nuôi con chưa thành niên nhưng ông T1 và bà T đều xác nhận, hiện tại bà T đang làm việc, sinh sống tại thành phố P, tỉnh Gia Lai, ít khi về nhà. Cháu Nguyễn Thị Ngọc Á và cháu Nguyễn Thị Mỹ D do ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và các cháu đều trình bày nguyện vọng mong muốn được sinh sống cùng ông T. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T về việc giao con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc Á và cháu Nguyễn Thị Mỹ D cho ông T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Khoản 1 Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt trong các trường hợp sau đây: Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình”. Do đó, bà T yêu cầu sẽ cấp dưỡng nuôi các con với mức 1.000.000 đồng/tháng/cháu là phù hợp.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà T và ông T1 không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[6] Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 271 và Điểu 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 110 và Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Văn T1.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 12/10/2008 và cháu Nguyễn Thị Mỹ D, sinh ngày 23/01/2015 cho ông Nguyễn Văn T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.

Bà Nguyễn Thị T phải cấp dưỡng nuôi con với mức 1.000.000đồng/tháng/01 người con. Thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 3 năm 2025 cho đến khi các con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án của người được thi hành án, người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn T1 đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với con chung. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Khi cần thiết, các bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009748 ngày 23 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.

Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

3. Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND huyện Ia Grai;
  • - Chi cục THADS huyện Ia Grai;
  • - UBND thị trấn Phù Mỹ, huyện
  • Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger