TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28/02/2025
V/v: "Tranh chấp ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đình Khương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Quang Sơn và ông Phạm Hữu Ái.
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Chí Công – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Liên – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 260/2024/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2024, về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Đắc Q, sinh năm: 1961. Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (có mặt)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Trần Đắc Q trình bày: Giữa ông Trần Đắc Q và bà Nguyễn Thị Thu H tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 02/3/2015. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cải nhau do bất đồng quan điểm sống và vấn đề tiền bạc. Đến năm 2018 thì bà Nguyễn Thị Thu H bỏ nhà đi vào thành phố Hồ Chí Minh sinh sống nên vợ chồng ông, bà đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Nay ông Q nhận thấy không thể sống chung với bà Nguyễn Thị Thu H được nữa nên ông Trần Đắc Q đề nghị Tòa án giải quyết cho ông Trần Đắc Q được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thu H.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Theo quy định pháp luật.
1
* Bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu H đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện VKSND huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng. Đối với đương sự thì bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu H đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiếp tục xét xử vụ án là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, thấy rằng giữa ông Trần Đắc Q và bà Nguyễn Thị Thu H tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 02/3/2015. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cải nhau do bất đồng quan điểm sống và vấn đề tiền bạc. Đến năm 2018 thì bà Nguyễn Thị Thu H bỏ nhà đi vào thành phố Hồ Chí Minh sinh sống nên vợ chồng ông, bà đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: không có.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Ông Trần Đắc Q được miễn nộp tiền án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy;
[1] Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của tòa án: Hội đồng xét xử thấy rằng đây là tranh chấp ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu H đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Theo lời trình bày của nguyên đơn cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, xác định giữa ông Trần Đắc Q và bà Nguyễn Thị Thu H tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 02/3/2015 nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3.1]. Tại đơn xác nhận tình trạng mâu thuẫn gia đình ghi ngày 31/12/2024, có xác nhận của UBND xã T, đã xác định: Giữa ông Trần Đắc Q và bà Nguyễn Thị Thu H tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 02/3/2015. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cải nhau do bất đồng quan điểm sống và vấn đề tiền bạc. Đến năm 2018 thì bà Nguyễn Thị Thu H bỏ nhà đi vào thành phố Hồ Chí Minh sinh sống nên vợ chồng ông, bà đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Do đó, xét yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đắc Q là có cơ sở chấp nhận.
2
[3.2]. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu H đã có đơn xin xét xử vắng mặt với nội dung thừa nhận lời trình bày của nguyên đơn là đúng sự thật. Do đó, xét yêu cầu xin ly hôn của ông Trần Đắc Q và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.
[4]. Về con chung: không có.
[5]. Về chia tài sản và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về án phí: Ông Trần Đắc Q được miễn tiền án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về hôn nhân: Ông Trần Đắc Q được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thu H.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu xem xét, giải quyết.
2. Về án phí: Ông Trần Đắc Q được miễn toàn bộ tiền án phí.
3. Án xử công khai, báo cho ông Trần Đắc Q biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị Thu H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện Hàm Tân; - THA dân sự huyện Hàm Tân; - Các đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Đình Khương |
3
Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Ông Trần Đắc Quyền được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thu Hà.
