Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ

TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HS – ST

Ngày: 28/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Nưm

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Thu Liên

Ông Vũ Minh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Dịu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà tỉnh Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Huỳnh Văn D. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1977; tại: tỉnh Quảng Ngãi. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố G, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: [...]; cấp ngày 14/8/2021; Nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Chức vụ: Không. Con ông Huỳnh Đ (đã chết) và Lê Thị Đ1, sinh năm: 1943; Bị cáo có vợ tên Trần Thị N, sinh năm: 1978 và 02 con lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm: 2009. Tiền án, tiền sự: Không. (Ngày 22/9/2000, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Ngày 29/12/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xử phạt 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 42 tháng về tội “ Cố ý gây thương tích” và “Chống người thi hành công vụ”. Bị cáo đã chấp hành xong).

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Giáp Việt P; sinh năm 2000; trú tại thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng: Huỳnh Tấn P1; sinh năm 2003 và Huỳnh Tấn Đ2; sinh năm: 2009; Người đại diện theo pháp luật của Huỳnh Tấn Đ2 là bà Trần Thị N; sinh năm: 1978; cùng địa chỉ: Khu phố G, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 11/7/2024, Huỳnh Văn D điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 74H-006.85 di chuyển trên đường H theo hướng thành phố K đi huyện Đ, cùng đi trên xe có Huỳnh Tấn P1, Huỳnh Tấn Đ2 ngồi ở ghế phụ. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi tới Km 1538+750 đoạn thuộc thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum, Huỳnh Văn D thấy phía trước có 03 xe ô tô loại xe ô tô 04 chỗ đang di chuyển cùng chiều nên D bật đèn tín hiệu xi nhan trái và điều khiển xe ô tô di chuyển sang phần đường ngược chiều để vượt các xe ô tô trên, quá trình vượt Huỳnh Văn D phát hiện phía trước ở hướng ngược chiều có xe mô tô biển kiểm soát 82U1-084.25 do Giáp V P1 điều khiển đi tới với tốc độ nhanh nên D đạp thắng, bật đèn tín hiệu xi nhan phải và đánh lái sang phải theo hướng di chuyển về lại phần đường theo hướng thành phố K đi huyện Đ để tránh né xe mô tô trên, tuy nhiên do khoảng cách gần nên xe mô tô do Giáp V P1 điều khiển tông va vào phía hông bên tài tại vị trí bánh xe trước và sau đó trượt ngã vào phía bên phải đường theo hướng di chuyển. Lúc này nghe tiếng va chạm, biết xảy ra tai nạn Huỳnh Văn D điều khiển xe dừng lại và đỗ phía bên phải đường theo hướng di chuyển, sau đó xuống xe hỗ trợ đưa Giáp V P1 đi cấp cứu, hai phương tiện hư hỏng.

Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 11/7/2024 tại Km 1538+750 đường H (Quốc lộ A), đoạn thuộc thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Đây là đoạn đường thẳng, mặt đường được rải nhựa phẳng. Đoạn đường có vạch sơn màu vàng đứt quãng phân chia lòng đường thành hai phần đường cho hai chiều xe chạy riêng biệt. Tại mỗi phần đường có vạch sơn màu trắng phân chia thành hai làn xe chạy. Hướng T là hướng đi huyện Đ; hướng Đông Nam là hướng đi thành phố K. Hai bên đường có dân cư sinh sống. Hiện trường để lại xe ôtô biển kiểm soát 74H-006.85; xe môtô biển kiểm soát 82U1-084.25; 06 vết cà (ký hiệu lần lượt theo thứ tự từ VC1 – VC6); vị trí nạn nhân Giáp Việt P (ký hiệu NN); 01 vết lốp. Lấy trụ mốc lộ giới ký hiệu H8-1538 làm vật chuẩn. Lấy chiều hướng khám nghiệm theo hướng thành phố K đi huyện Đ. Các số đo được tính đến mép đường nhựa bên phải. Lòng đường rộng 11,1m. Phần đường hướng thành phố K đi huyện Đ rộng 5,55m. Phần đường hướng huyện Đ đi thành phố K rộng 5,55m. Từ vạch sơn vàng đứt quãng phân chia lòng đường thành hai chiều riêng biệt đến mép đường nhựa bên phải là 5,40m. Từ vạch liền màu trắng phân chia làn đường của phần đường hướng thành phố K đi huyện Đ đến mép đường nhựa bên phải là 1,60m. Xe ôtô biển kiểm soát 74H-006.85, dừng trên phần đường hướng TP . đi huyện Đ, đầu xe quay hướng T, đuôi xe quay hướng Đông Nam. Khoảng cách từ trục trước bên phụ đến mép đường nhựa bên phải là 1,9m; từ trục sau bên phụ 1 đến mép đường nhựa bên phải là 1,95m; từ trục sau bên phụ 2 đến mép đường nhựa bên phải là 2,05m; từ trục sau bên phụ 3 đến mép đường nhựa bên phải là 2,1m. Xe môtô biển kiểm soát 82U1-084.25 nằm ngã trong lề phải đường trên mặt đường bê tông lối vào nhà dân phía bên phải hướng huyện Đ đi TP .. Đầu xe mô tô quay hướng T, đuôi xe mô tô quay hướng Đ, phần thân bên trái xe mô tô tiếp giáp với mặt đường bê tông. Từ trục trước xe môtô đến mép đường nhựa bên phải là 13,6m. Từ trục sau xe môtô đến mép đường nhựa bên phải là 14,75m. Tại hiện trường, vị trí nạn nhân Giáp Việt P nằm ngã trên đường, thuộc phần đường huyện Đ đi TP .. Đầu nạn nhân quay hướng Tây Nam, chân nạn nhân quay hướng Đông Nam. Từ vị trí đầu nạn nhân Giáp V P đến mép đường nhựa bên phải là 10m. Quá trình va chạm, căn cứ vị trí va chạm, chiều hướng, đặc điểm vết cà xác định xe môtô biển kiểm soát 82U1-084.25 ngã xuống đường tạo ra 06 vết cà trên phần đường hướng huyện Đ đi thành phố K (ký hiệu từ VC1-VC6). Vết cà 1 dài 0,7m; từ đầu vết cà 1 đến mép đường nhựa bên phải là 6,2m; từ cuối vết cà 1 đến mép đường nhựa bên phải là 6,5m. Vết cà 2 dài 0,4m; từ đầu vết cà 2 đến mép đường nhựa bên phải là 6,45m; từ cuối vết cà 2 đến mép đường nhựa bên phải là 6,65m. Vết cà 3 dài 2,25m; từ đầu vết cà 3 đến mép đường nhựa bên phải là 7,4m; từ cuối vết cà 3 đến mép đường nhựa bên phải là 7,9m. Vết cà 4 dài 0,6m; từ đầu vết cà 4 đến mép đường nhựa bên phải là 9,15m; từ cuối vết cà 4 đến mép đường nhựa bên phải là 9,3m. Vết cà 5 dài 0,8m; từ đầu vết cà 5 đến mép đường nhựa bên phải là 9,35m; từ cuối vết cà 5 đến mép đường nhựa bên phải là 9,7m. Vết cà 6 dài 0,85m; từ đầu vết cà 6 đến mép đường nhựa bên phải là 10m; từ cuối vết cà 6 đến mép đường nhựa bên phải là 10,3m. Từ đầu vết cà 1 đến đầu vết cà 2 là 0,6m; đến đầu vết cà 3 là 1,85m; đến đầu vết cà 4 là 5,55m; đến đầu vết cà 5 là 7,15m; đến đầu vết cà 6 là 9,1m; đến vị trí đầu nạn nhân Giáp Việt P là 16,3m; đến trục sau xe mô tô biển kiểm soát 82U1-084.25 là 16,3m; đến trục trước xe mô tô biển kiểm soát 82U1-084.24 là 17,2m. 01 (một) vết lốp (vết lốp đôi) có chiều rộng 0,6m; chiều dài 29,4m do xe ôtô biển kiểm soát 74H-006.85 để lại trên phần đường hướng thành phố K đi huyện Đ; từ đầu vết lốp đến mép đường nhựa bên phải là 4,05m; từ cuối vết lốp đến mép đường nhựa bên phải là 2,5m. Căn cứ chiều hướng chuyển động, vị trí của các phương tiện, các dấu vết để lại tại hiện trường, lời khai những người làm chứng, người có liên quan và quá trình khám nghiệm hiện trường xác định điểm va chạm đầu tiên giữa xe ôtô biển kiểm soát 74H-006.85 và xe môtô biển kiểm soát 82U1-084.25 chiếu vuông góc xuống mặt đường được gọi là điểm đụng đầu. Từ điểm đụng đầu đến mép đường nhựa bên phải là 5,65m; đến trục trước bên tài là 26,3m; đến trục sau bên tài 1 là 24,35m; đến trục sau bên tài 2 là 19,4m; đến trục sau bên tài 3 là 18,05m; đến trục trước bên phụ là 26,45m; đến trục sau bên phụ 1 là 24,5m; đến trục sau bên phụ 2 là 19,65m; đến trục sau bên phụ 3 là 18,3m, đến đầu vết cà 1 là 6,45m; đến đầu vết cà 2 là 5,85m; đến đầu vết cà 3 là 7,95m; đến đầu vết cà 4 là 11,55m; đến đầu vết cà 5 là 13,3m; đến đầu vết cà 6 là 15,2m; đến vị trí đầu nạn nhân Giáp Việt P là 22,85m; đến trục trước xe mô tô biển kiểm soát 82U1-084.25 là 23,1m; đến trục sau xe mô tô biển kiểm soát 82U1-084.25 là 22,3m; đến đầu vết lốp là 11m; đến cuối vết lốp là 18,3m. Lấy cột mốc ký hiệu H8-1538 nằm bên trái đường theo hướng khám nghiệm (thành phố K đi huyện Đ) làm vật chuẩn. Từ vật chuẩn đến mép đường nhựa bên phải theo hướng khám nghiệm là 11,6m; đến vị trí đầu nạn nhân Giáp Việt P là 13,7m; đến trục sau xe mô tô biển kiểm soát là 15,3m; đến trục trước xe mô tô biển kiểm soát 82U1-084.25 là 15,4m; đến đầu cà 6 là 21,5m; đến đầu cà 5 là 23,5m; đến đầu cà 4 là 25,2m; đến đầu vết cà 3 là 28,6m; đến đầu vết cà 2 là 30,6m; đến đầu vết cà 1 là 30,1m; đến đầu vết lốp là 25,6m; đến điểm đụng đầu là 36,4m; đến trục sau bên phụ 3 là 54,7m; đến trục sau bên phụ 2 là 56m; đến trục sau bên phụ 1 là 60,9m; đến trục trước phụ là 62,8m. Cách vị trí va chạm 95,5m, hướng thành phố K đi huyện Đ có biển báo hiệu Đường người đi bộ sang ngang và 146,3m là biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên – đường liên thôn thuộc xã Đ.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể đối với Giáp Việt P:

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 117/KLTTCT-TTP ngày 30/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K đối với tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Giáp Việt P kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong quá trình giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Giáp Việt P tại thời điểm giám định là 64,76%. Làm tròn 65% (Sáu mươi lăm phần trăm).

Kết luận giám định phương tiện:

- Phương tiện mang biển số đăng ký 74H-006.85: Bên ngoài xe: Chắn bùn bánh xe trục 01 phía bên trái bị bể vỡ. Chụp mâm (vành) bánh xe trục 02 phía bên trái bị bể vỡ. Phần sau chắn bùn bánh xe trục 02 bên trái bị cong vênh. Kiểm tra hệ thống lái: Vào hồi 14 giờ 25 phút, ngày 31/7/2024, tại Trung tâm Đ3.S theo kết quả kiểm tra trên thiết bị: Độ trượt ngang -0.2(mm/m). Hệ thống lái đạt yêu cầu. Kiểm tra hệ thống phanh: Phanh đỗ: Vào hồi 14 giờ 25 phút, ngày 31/7/2024, tại Trung tâm Đ3.S theo kết quả kiểm tra trên thiết bị: Hiệu quả phanh đỗ 20(%). Phanh đỗ đạt yêu cầu. Phanh chính: Vào hồi 14 giờ 25 phút, ngày 31/7/2024, tại Trung tâm Đ3.S theo kết quả kiểm tra trên thiết bị: Hiệu quả phanh chính 69(%) hệ thống sai lệch lực phanh giữa hai bánh trên cùng một trục nhỏ hơn 25(%). Phanh chính đạt yêu cầu. Kiểm tra hệ thống đèn: Vào hồi 14 giờ 25 phút, ngày 31/7/2024, tại Trung tâm Đ3.S theo kết quả kiểm tra trên thiết bị: Hệ thống đèn đạt yêu cầu.

- Phương tiện mang biển số đăng ký 82U1-084.25: Bên ngoài xe: Ốp nhựa phía trước đầu xe bị bể vỡ, tách rời vị trí lắp ghép. Đầu tay lái phía bên trái bị cà mòn; tay cầm lái phía bên phải bị cong vênh. Mặt nạ trước, cụm đèn chiếu sáng trước, cánh manh chắn gió phía bên trái, ốp nhựa dưới tấm để chân người lái phía bên trái, ốp nhựa phần sau xe tại vị trí bên bánh xe sau phía bên trái: bị bể vỡ, cà mòn. Mặt ngoài gác chân người ngồi sau phía bên trái, chống chân giữa phía bên trái: bị cà mòn, trầy xước. Giảm chấn của càng lái (phuộc trước) bị cong vênh về sau. Cánh manh chắn gió bên phải, ốp ống xả phía bên phải: bị cà mòn, trầy xước. Ốp nhựa dưới tấm để chân người lái phía bên phải: bị cà mòn, bung hở so với vị trí lắp ghép. Phần sau của yên xe bị rách. Kiểm tra hệ thống phanh: Phanh trước (Phanh đĩa): Hoạt động bình thường, không phát hiện có hiện tượng bị hư hỏng. Phanh trước có tác dụng. Phanh sau: Cơ cấu phanh tại bánh xe hoạt động bình thường, không phát hiện có hiện tượng bị hư hỏng. Kiểm tra hệ thống lái: Càng lái cân đối, điều khiển nhẹ nhàng, lập chắc chắn với trục lái; giảm chấn của càng lái bị cong nhẹ về sau; trục lái không có độ rơ dọc trục và độ rơ hướng kính; có cơ cấu hạn chế hành trình của góc quay lái; Hệ thống lái có tác dụng. Kiểm tra hệ thống đèn: Hiện hệ thống đèn không hoạt động không kiểm tra hệ thống đèn. Bên ngoài xe: Phần trước ốp nhựa của cụm đèn trước phía bên phải bị bể vỡ. Kiểm tra hệ thống lái: Độ trượt ngang -1.7(mm/m). Hệ thống lái đạt yêu cầu. Kiểm tra hệ thống phanh: Hiệu quả phanh đỗ 27(%). Phanh đỗ đạt yêu cầu. Hiệu quả phanh chính 57(%) hệ số sai lệch lực phanh giữa hai bánh trên cùng một trục nhỏ hơn 25(%). Phanh chính đạt yêu cầu. Hệ thống đèn: Đèn báo rẽ trước bên phải không sáng khi bật công tắc, góc lệch của đèn chiếu sáng bên phải không đạt yêu cầu. Ghi chú: Sau khi xe ô tô va chạm với xe máy phần trước đầu xe phía bên phải bị tác động. Việc này có thể dẫn đến đèn báo rẽ trước bên phải không sáng khi bật công tắc, góc lệch của đèn chiếu sáng bên phải không đạt yêu cầu.

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn, chất kích thích:

- Tại phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ Ethanol lập ngày 11/7/2024 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh K: Nồng độ Ethanol có trong máu của Giáp V P là: 160mg/dl.

- Tại phiếu đo nồng độ cồn số biên bản 855740 do Phòng CSGT Công an tỉnh K lập ngày 11/7/2024 tại Km 1538+750 đường H đoạn thuộc thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum: Nồng độ cồn trong hơi thở của Huỳnh Văn D là 0.000mg/l

- Tại Phiếu kết quả xét nghiệm ma túy lập ngày 11/7/2024 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh K đối với Huỳnh Văn D kết quả âm tính.

Kết luận giám định video clip:

Tại Kết luận giám định số 295/KL-KTHS ngày 19/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận:

- Tập tin video “5659159706848.mp4”, dung lượng 18.8MB, thời lượng 01 phút 00 giây và “5659163103435.mp4”, dung lượng 18.8MB, thời lượng 01 phút 00 giây: không bị cắt ghép, chỉnh sửa.

- Tại thời điểm 20 giờ 30 phút 52 giây đến 20 giờ 30 phút 54 giây, ngày 11/7/2024 (thời gian hiển thị trên video) trong tập tin video, quan sát thấy: 02 phương tiện liên quan trong vụ tai nạn giao thông. Tiếp tục đối chiếu giữa hai hình ảnh trong tập tin vi deo trên với mô tả ở mục “I. TÓM TẮT NỘI DUNG SỰ VIỆC” trong QĐTC giám định của Cơ qua CSĐT, Công an huyện Đ, tỉnh Kon Tum, có thể xác định được các phương tiện liên quan trong vụ tai nạn giao thông là:

- Xe ô tô: là xe ô tô biển kiểm soát 74H-006.85 do Huỳnh Văn D điều khiển.

- Xe mô tô: là xe mô tô biển kiểm soát 82U1-084.25 do Giáp Việt P điều khiển.

- Tại thời điểm 20 giờ 30 phút 52 giây đến 20 giờ 30 phút 54 giây, ngày 11/7/2024 (thời gian hiển thị trên video) trong tập tin video “5659159706848.mp4”, dung lượng 18.8MB, thời lượng 59 giây quan sát thấy: Tại trước thời điểm xảy ra va chạm, xe ô tô lưu thông theo hướng Thành phố K đi huyện Đ, trên phần đường bên trái vạch vàng nét đứt và xe mô tô xuất hiện lưu thông theo hướng ngược lại, bên trai vạch vàng nét đứt so với hướng lưu thông của xe ô tô.

- Tại thời điểm 20 giờ 30 phút 52 giây đến 20 giờ 30 phút 56 giây, ngày 11/7/2024 (thời gian hiển thị trên video) trong tập tin video “5659163103435.mp4", dung lượng 18.8MB, thời lượng 59 giây quan sát thấy : Vị trí va chạm bên trai vạch vàng nét đứt theo hướng lưu thông của xe ô tô.

Kết luận định giá tài sản:

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐG ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận:

- Giá trị thiệt hại của 01 xe ô tô biển kiểm soát số 74H-006.85, số khung: LNXAEN0C7NL407507, số máy: YC6L35050LG1L9N00251, nhãn hiệu: CHENGLONG, số loại LZ1340H7GBT, loại xe tải có mui, màu sơn bạc, tình trạng đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông tại thời điểm tháng 7/2024 là 725.000₫ (Bảy trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

- Giá trị thiệt hại của 01 xe mô tô biển kiểm soát số 82U1-084.25, số khung: RLHJK1401PZ015602, số máy: JK14E0239046, nhãn hiệu: HONDA, số loại AIR BLADE, màu sơn đỏ đen, tình trạng đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông tại thời điểm tháng 7/2024 là 6.469.000đ (Sáu triệu bốn trăm sáu mươi chín ngàn đồng).

Về giấy phép lái xe:

- Huỳnh Văn D có Giấy phép lái xe số [...], hạng A1, FC do sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 28/11/2019.

- Giáp Việt P có Giấy phép lái xe số [...], hạng A1 do sở Giao thông vận tải tỉnh K cấp ngày 05/9/2019.

Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi sự việc xảy ra Huỳnh Văn D đã bồi thường số tiền số tiền 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng) bị hại không yêu cầu buồi thường gì thêm.

Tại bản cáo trạng số: 02/CT-VKS ngày 31/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà tỉnh Kon Tum đã truy tố bị cáo Huỳnh Văn D về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Huỳnh Văn D về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo bị cáo Huỳnh Văn D từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu gì thêm nên không đề cập xem xét. Về vật chứng: đã được xử lý trong quá trình điều tra nên không đề cập xem xét. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo Huỳnh Văn D phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20h30 phút ngày 11/7/2024 tại Km 1538+750 đường H đoạn thuộc thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum, Huỳnh Văn D điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 74H-006.85 vượt xe không đảm bảo an toàn dẫn đến va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 82U1-084.25 do Giáp Việt P di chuyển ngược. Hậu quả Giáp Việt P bị thương tích 65%, xe mô tô hư hỏng với giá trị thiệt hại về tài sản 6.469.000₫ (Sáu triệu bốn trăm sáu mươi chín ngàn đồng). Hành vi điều khiển xe ô tô vượt xe không đảm bảo an toàn dẫn đến va chạm với xe mô tô di chuyển ngược chiều của bị cáo Huỳnh Văn D đã vi phạm điều 14 Luật Giao thông đường bộ. Vì vậy, hành vi nêu trên của Huỳnh Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; tội danh và hình phạt được quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi điều khiển xe ôtô vượt xe không đảm bảo an toàn dẫn đến tai nạn giao thông nêu trên của bị cáo Huỳnh Văn D là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến khách thể quan trọng mà pháp luật công nhận và bảo vệ đó là sức khỏe và tài sản của người khác tham gia giao thông đường bộ, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi đã gây ra.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Nhận thấy, trước khi phạm tội, bị cáo có nhân thân xấu, ngày 22/9/2000, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; ngày 29/12/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xử phạt 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 42 tháng về tội “ Cố ý gây thương tích” và “Chống người thi hành công vụ”. Bị cáo đã chấp hành xong các hình phạt. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục một phần hậu quả cho bị hại số tiền 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng), người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo Huỳnh Văn D được Ủy ban mặt trận tổ quốc xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị ghi nhận Tấm lòng vàng các năm 2000 và 2021 về việc hỗ trợ bà con bị thiên tai trong lũ lụt và chung tay hỗ trợ nhu yếu phẩm, cho nhân dân bị ảnh hưởng dịch covid-19; có ông ngoại Lê M được chủ tịch nước tặng huy chương kháng chiến hạng nhì và Thủ tướng chính phủ tặng kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù, đầy; bị cáo là lao động chính trong gia đình. Ngoài ra, trong vụ án này, người bị hại cũng có lỗi đó là: Điều khiển xe mô tô mà trong máu có nông độ cồn (160mg/dl). Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo Huỳnh Văn D được hưởng quy định tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với xe ô tô biển kiểm soát 74H006.85, giấy đăng ký xe ô tô, bằng lái xe và các giấy tờ liên quan đều mang tên Huỳnh Văn D. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe ô tô biển kiểm soát 74H006.85 và các giấy tờ có liên quan cho Huỳnh Văn D quản lý, sử dụng. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 82U1-084.25; 01 giấy đăng ký; 01 giấy phép lái xe đều mang tên Giáp Việt P. Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra xét thấy việc trả lại phương tiện trên không ảnh hưởng đến việc điều tra nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử lý đồ vật tài liệu trả lại cho Giáp V Phúc quản lý, sử dụng. Xét thấy việc trả lại giấy tờ, phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, là đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi sự việc xảy ra bị cáo Huỳnh Văn D đã bồi thường số tiền số tiền 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng) cho người bị hại. Người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về các vấn đề khác:

Đối với Giáp Việt P, quá trình điều tra xác định Giáp Việt P điều kiển xe mô tô biển kiểm soát 82U1-084.25 tham gia giao thông đi đúng phần đường theo quy định. Tuy nhiên, Giáp V P điều khiển xe mô tô mà trong máu có nông độ cồn (160mg/dl) đã vi phạm quy định tại điểm c khoản 7 điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Căn cứ Luật xử lý vi phạm hành chính cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ chuyển tài liệu liên quan đến hành vi vi phạm hành chính của Giáp Việt P đến Phòng C công an tỉnh K để xử lý theo thẩm quyền là phù hợp, đúng quy định.

[8] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo bị kết án phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên xử bị cáo Huỳnh Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

[1] Về hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; Điều 36; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn D 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành hình sự Công an thành phố Đ nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

[2] Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Huỳnh Văn D phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

[3] Về quyền kháng cáo:

Căn cứ các Điều 331; 332; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

“Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP Đà Nẵng;
  • - TAND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND huyện Đắk Hà;
  • - CQĐT Công an huyện Đắk Hà;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Quách Văn Nưm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS – ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ TỈNH KON TUM về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 06/2025/HS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Văn Dụ vi phạm quy định về tham gia GTĐB
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger